Hướng nghiệp 2019: Nghề nào phù hợp?

Giảm giá cho các sản phẩm sau

Nghề Quay phim

Nhà quay phim là một nghệ sĩ - một người sáng tạo cái đẹp trong nghệ thuật. Lao động nghệ thuật sáng tạo là một loại hình lao động đặc biệt được con người tôn vinh, có lịch sử từ thời kì cổ đại. Bạn được tự do sáng tạo với trí tưởng tượng cùng với sự hỗ trợ đồng nghiệp, của máy móc. Tài năng, sự bền bỉ sáng tạo, lao động cần mẫn sẽ mang đến cho người nghệ sĩ danh tiếng và một cuộc sống có ý nghĩa.

Không xuất hiện trong bộ phim bạn xem như các diễn viên, nhà quay phim lặng lẽ chia sẻ với khán giả những khuôn hình đẹp nhiều cảm xúc bằng sự nhạy cảm, tinh tế và lao động miệt mài. Trở thành nhà quay phim, bạn không chỉ góp phần khơi gợi những xúc cảm đẹp, nhân bản trong mỗi khán giả mà hơn nữa, đã trở thành người định hướng thẩm mĩ cho họ.

Những tố chất cần thiết cho nghề quay phim:

- Cảm nhận tốt về hình ảnh

- Óc tưởng tượng phong phú

- Sáng tạo

- Tính kỷ luật

- Sự kiên nhẫn

- Khả năng làm việc dưới áp lực cao

Nghề Biên kịch

Khi xem một bộ phim, phần hiện hữu trước mắt bạn là thế giới trong phim với những diễn viên và sự kiện. Chúng ta luôn nghĩ rằng những bối cảnh, sự kiện, lời nói, cử chỉ đang diễn ra ấy là thuộc về những nhân vật đó... Nhưng mỗi bộ phim là thế giới do rất nhiều người tạo ra. Và, bắt đầu cho tất cả chính là nhà biên kịch.
Nhà biên kịch là người đầu tiên tạo dựng toàn bộ câu chuyện trên phim: lựa chọn bối cảnh, nhân vật sẽ xuất hiện, cá tính, ngôn ngữ của họ. Một số nhà biên kịch cũng có thể làm công việc như là một “bác sĩ kịch bản”.
Họ có thể tham gia trực tiếp vào quá trình làm phim, cùng lựa chọn diễn viên, đề nghị thay đổi cách diễn xuất cho phù hợp với yêu cầu của kịch bản... Có không ít trường hợp đạo diễn đồng thời là người viết kịch bản phim. Cũng có khi nhà biên kịch kiêm luôn vai trò đạo diễn.
Nhưng nhà biên kịch, trước hết, vẫn là một tác giả. Người ta thường nói biên kịch và đạo diễn đều là những nhà làm phim. Chỉ có điều đạo diễn tạo ra phim trên màn ảnh, còn biên kịch thì tạo ra phim trên trang giấy. Sản phẩm của bạn tạo ra chưa phải là những bộ phim, nhưng là thứ mà bộ phim nào cũng phải có: kịch bản

Những phẩm chất giúp bạn thành công trong nghề biên kịch

- Năng lực sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú

- Sự nhạy cảm

- “Phông” văn hóa rộng, ham tìm tòi, học hỏi 

- Sự kiên trì 

- Sự tự tin

Và những điều sẽ cản trở bạn trong nghề

- Sự vô tâm

- Hiếu thắng và nóng vội

- Tự ti và lười biếng

Nghề Nhiếp ảnh

Ngày nay, nghệ thuật nhiếp ảnh thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong cuộc sống. Trong bảo tàng, những bức ảnh chỉ xếp sau những tác phẩm hội họa. Ảnh đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực báo chí, xuất bản, quảng cáo v.v... Chụp ảnh là việc sử dụng máy ảnh và ánh sáng ghi lại hình ảnh của đối tượng nhiếp ảnh trên phim hoặc trên máy ảnh kỹ thuật số.

Một số nghề nghiệp trong ngành nhiếp ảnh

Trong phạm vi rộng lớn của nhiếp ảnh, các nhà nhiếp ảnh chuyên sâu về một hoặc một số lĩnh vực.

Phóng viên ảnh

Làm việc trong các tòa soạn báo, tạp chí hoặc các hãng thông tấn. Công việc của họ là chụp ảnh tin, ảnh minh họa cho các bài báo. Tùy vào quy mô tờ báo mà mỗi báo có một phóng viên ảnh đảm nhiệm toàn bộ công việc hay có cả một tổ phóng viên chuyên trách về ảnh.

Người chuyên chụp phóng sự thường là những phóng viên có kinh nghiệm từng trải, có đầu óc tỉnh táo khi phân tích những diễn biến của cuộc sống. Bằng hình ảnh, họ ghi lại những diễn biến của các sự kiện nóng, của những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Người chụp ảnh phóng sự phải đi đến tận nơi xảy ra sự kiện, chứng kiến và sống cùng với sự kiện đó.

Người chụp ảnh nghệ thuật

Thế giới của những người chụp ảnh nghệ thuật rất đa dạng:

Người chụp ảnh phong cảnh thường chuyên về chụp những cảnh đẹp, con người, đất nước mà họ quan tâm. Những bức ảnh đó có thể được giới thiệu trong các triển lãm chuyên đề hoặc dùng in vào lịch, làm bưu thiếp, in sách ảnh v.v…

Người chụp ảnh chân dung thường hoạt động trong lĩnh vực ảnh dịch vụ như các studio chụp ảnh nghệ thuật, ảnh cưới v.v... Trong cuộc đời, mỗi người có nhiều khoảnh khắc trọng đại muốn ghi lại, hình ảnh của mình từ lúc mới sinh ra, lớn lên dựng vợ gả chồng cho tới lúc qua đời. Khi nào cũng cần tới nhà nhiếp ảnh.

Người chụp ảnh khoa học lại quan tâm tới những vấn đề khoa học. Những nhà nhiếp ảnh này thường chuyên vào lĩnh vực mình quan tâm. Đôi khi để chụp được ảnh họ còn tạo những dụng cụ riêng biệt. Chẳng hạn để chụp sao trời cần các loại ống kính đặc biệt có tầm xa hay chụp đứa trẻ trong bụng mẹ cần dụng cụ riêng và chụp qua kính hiển vi...

Người chụp ảnh quảng cáo cần tư duy thực tiễn, óc sáng kiến và khả năng sáng tạo mới mẻ. Phần lớn thời gian họ tập trung vào dàn dựng hình ảnh, nhưng những hình ảnh này lại là kết quả của trí tưởng tượng phong phú với tính mục đích rõ ràng.

Điều kiện làm việc và cơ hội nghề nghiệp

Tính phổ cập của nhiếp ảnh rất lớn. Chỉ cần sự ham thích và năng khiếu, sau một thời gian được hướng dẫn, bạn có thể cầm máy chụp ảnh. Tuy nhiên, để trụ lại với nghề, bạn cần sự bền bỉ và nỗ lực không ngừng, không ngại vất vả. Bên cạnh đó, yêu cầu phái thường xuyên thay đổi máy móc, phương tiện kỹ thuật để bắt kịp ưu thế của thời đại cũng là một trong những thách thức với người làm nhiếp ảnh.

Bù lại, nhiếp ảnh vẫn luôn là lĩnh vực hấp dẫn nhiều người bởi tạo ra hình ảnh quả là công việc kỳ thú. Người chụp ảnh không chỉ có cái thú tìm tòi về cuộc sống mà còn hiểu biết sâu sắc thêm về cái đẹp trong nhiếp ảnh cũng như gửi gắm suy nghĩ, tình cảm, trăn trở... vào bức ảnh. Bên cạnh đó, đặc trưng nghề nghiệp cũng tạo cho nhà nhiếp ảnh mối quan hệ rộng lớn với xã hội

Nghề Âm thanh - Ánh sáng

Nghề Âm thanh - Ánh sáng là một nghề đã rất quen thuộc với chúng ta trong cuộc sống đời thường, xuất hiện nhan nhản trên sách báo, internet v.v… tuy nhiên nghề này ở Việt Nam vẫn còn rất mới lạ.

Với sự hỗ trợ đắc lực của các loại máy móc thiết bị điện tử hiện đại, các kỹ sư - những người thợ chuyên nghiệp điều chỉnh âm thanh và ánh sáng biểu diễn đóng vai trò rất quan trọng, luôn gắn bó chặt chẽ và là một phần không thể thiếu được của mọi loại hình biểu diễn nghệ thuật. Không như một vài người lầm tưởng, vai trò của ánh sáng trong lĩnh vực sân khấu cũng rất quan trọng không thua gì âm thanh. Nếu như âm thanh phải đạt được cái hay, thì ánh sáng cũng phải đạt tới cái đẹp. Hai loại nghệ thuật này tuy khác nhau hoàn toàn, nhưng trong lĩnh vực sân khấu, nó có sự tương hỗ đặc biệt.

Những kỹ năng cần thiết của một kỹ thuật viên âm thanh, ánh sáng:

Kỹ thuật viên âm thanh, ánh sáng là công việc sáng tạo khá quan trọng của công nghiệp sản xuất âm nhạc, điện ảnh, giải trí. Nhưng cho tới nay, việc đào tạo ngành này vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam và chưa có những chương trình đào tạo chuyên nghiệp. Các bạn có thể tìm hiểu và đăng kí học tại Trường ĐH Sân khấu Điện ảnh, ĐH Hoa Sen, Cao đẳng Phát thanh Truyền hình… chủ yếu là các chương trình đào tạo ngắn hạn cấp chứng chỉ. Phần lớn các kỹ sư âm thanh, ánh sáng đang làm việc tại các studio, các sân khấu đều được học từ nước ngoài về, hoặc “săn” sư phụ và truyền nghề, học lóm.

Một kỹ sư âm thanh cần có các phẩm chất sau:

- Nhanh nhạy và chính xác: với kỹ sư âm thanh tất cả đều là công việc điều chỉnh, chính xác và mau lẹ, họ cần phản ứng nhanh với những yêu cầu đưa ra.

- Trí tưởng tượng: vừa là kỹ thuật viên vừa là nghệ sĩ, kỹ sư âm thanh cần tìm những phương pháp mới lạ để đạt được hiệu ứng như mong đợi.

- Ham hiểu biết: các phương tiện kỹ thuật luôn được cải tiến nhanh chóng, họ cần phải nắm bắt thông tin và tự tìm tư liệu để luôn bắt kịp xu hướng.

Nhà Ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ và cách nói của con người. Người nghiên cứu bộ môn này được gọi là nhà ngôn ngữ học.

Ngôn ngữ học không đơn giản chỉ là học ngôn ngữ. Ngôn ngữ học mang tới cho bạn kiến thức lí thuyết, kĩ năng phân tích, khả năng ứng dụng liên quan đến ngôn ngữ loài người nói chung và Tiếng Việt yêu quý của chúng ta nói riêng. Giá trị đó khiến ngành ngôn ngữ học trở nên gần gũi và hữu dụng với thực tiễn nhưng cũng rất thú vị và mới mẻ khi khám phá.

Những kỹ năng cơ bản để trở thành một nhà Ngôn ngữ học:

- Kỹ năng quan sát

- Kỹ năng phân tích và tổng hợp

- Kỹ năng trình bày và soạn thảo văn bản

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng làm việc nhóm

- Kỹ năng sử dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin

Nhà Quốc tế học

Nhà Quốc tế học là người có khả năng công tác trên các lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, phục vụ trong các ngành liên quan đến các vấn đề quốc tế và quan hệ đối ngoại. Cụ thể, họ có thể đảm nhận công việc về Quan hệ quốc tế tại các trường Đại học và Cao đẳng, các viện nghiên cứu, các cơ quan đối ngoại, an ninh, truyền thông; các văn phòng đại diện, các doanh nghiệp nhà nước hoặc tư nhân; các tổ chức chính phủ hoặc phi chính phủ trong nước hoặc nước ngoài.

Những kỹ năng cơ bản cần có của một nhà Quốc tế học:

- Có nghiệp vụ chuyên môn để làm tốt công tác đối ngoại cũng như nghiên cứu và giảng dạy

- Có khả năng tiếp cận kiến thức mới, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội

- Sử dụng thông thạo tiếng Anh trong công tác đối ngoại, biên dịch, phiên dịch trong nghiên cứu; đồng thời có thể giao tiếp được bằng một ngoại ngữ thứ hai khác

- Sử dụng tốt các phần mềm chuyên ngành và khai thác hiệu quả Internet phục vụ cho công việc chuyên môn

Nghề Thiết kế đồ họa

Thiết kế đồ họa là cụm từ để chỉ một chuyên ngành thuộc về mỹ thuật. Trong đó danh từ "đồ họa" để chỉ những bản vẽ được hiển thị trên một mặt phẳng (đa chất liệu), và động từ "thiết kế" bao hàm ý nghĩa kiến thiết, sáng tạo. Từ đó có thể hiểu, "thiết kế đồ họa" là kiến tạo một hình ảnh, một tác phẩm lên một bề mặt chất liệu nào đó, mang ý nghĩa nghệ thuật nhằm mục đích trang trí, làm đẹp, phục vụ nhu cầu con người.

Từ thời Đồ đá, ý thức về thiết kế đồ họa đã hình thành, nhưng tất nhiên còn rất sơ khai. Con người lúc này đã biết vẽ hoặc khắc hình lên đá, ban đầu nhằm mục đích truyền tin, đánh dấu hoặc ghi nhớ. Về sau này, thiết kế đồ họa mới phát triển với ý nghĩa trang trí nghệ thuật, và dần trở thành một thành phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người.

Ngày nay, thiết kế đồ họa đã trở thành một ngành dịch vụ quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hầu hết các ngành nghề khác trong xã hội. Ý nghĩa của khái niệm thiết kế đồ họa giờ đây thường được hiểu là tạo ra những hình ảnh như logo, quảng cáo, trang trí trên đồ vật, quần áo vải vóc... dưới sự trợ giúp của máy vi tính. Lẽ dĩ nhiên đó chỉ là một khía cạnh của thiết kế đồ họa. Tuy nhiên đó là khái niệm thực dụng nhất về thiết kế đồ họa hiện nay mà hầu như ai cũng có thể biết đến.

Một số yêu cầu công việc đối với nghề thiết kế đồ họa:

Không dành cho người thiếu đam mê và kiên trì

Thiết kế đồ họa là một nghề có những nét đặc trưng riêng. Ngoài yêu cầu có năng khiếu về thẩm mỹ bạn cần phải có đam mê thực sự. Nhiều khi bạn phải mất cả ngày để thiết kế một sản phẩm nhưng nghĩ mãi chẳng ra ý tưởng hoặc đã thiết kế những chưa đâu vào đâu. Rồi nhiều lúc bạn gặp phải khách hàng khó tính, họ chỉ coi bạn như công cụ để thể hiện ý tưởng của họ? Họ gạt đi tất cả những bản mẫu mà bạn tư vấn, họ bắt bạn sửa đi sửa lại nhiều lần đến nỗi khác với ý tưởng mà bạn đã đề xuất… Nếu bạn không có niềm đam mê và sự kiên trì thì sớm muộn bạn cũng sẽ phải bỏ cuộc!

Luôn cần những ý tưởng sáng tạo

Bạn thiết kế sản phẩm cho hàng trăm khách hàng nhưng không phải khách hàng nào cũng giống nhau. Mỗi dự án bạn nhận lại có một lĩnh vực hoạt động riêng nên bạn phải cố gắng làm sao để thiết kế cho phù hợp với công ty của họ. Làm về thiết kế đã khó, thiết kế sáng tạo còn khó hơn. Nhiều khi bạn ngồi hàng tiếng những chưa hình dung được bản thiết kế nó sẽ như thế nào, bố cục ra sao? Đó là lúc cần sự sáng tạo!

Nghề thiết kế đồ họa cũng cần sự hiểu biết rộng về xã hội và các góc cạnh của cuộc sống

Đồ họa không chỉ bó hẹp ở một phạm vi hay lĩnh vực nào mà nó len lỏi vào tất cả các góc nhỏ của cuộc sống. Đơn giản như đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, cho đến các phương tiện đi lại như xe máy, ô tô… rồi đến các ấn phẩm quảng cáo truyền thông như: website, bannner flash, catalog, profile, tờ rơi… Nếu bạn muốn thiết kế đẹp và thân thiện với người dùng, bạn phải thực sự hiểu bản chất của nó là dành cho đối tượng nào, để làm gì? Ví dụ: Một website chuyên nghiệp thì cần phải ngắn gọn, súc tích về thông tin. Màu sắc phải thống nhất, có màu đặc trưng riêng và thân thiện với người dùng. Do đó bạn cần phải xác định được thông điệp muốn truyền tải tới người truy cập, làm sao để họ dễ dàng bao quát và định vị được thông tin trong website chỉ sau vài giây truy cập.

Nỗ lực làm việc hết mình

Khi bạn tham gia hoặc làm các dự án cho khách hàng, thường bạn đã hẹn kế hoạch hoàn thiện sản phẩm cho họ. Song vì một lý do nào đó mà sắp đến ngày ra mắt rồi mà công việc vẫn còn ngổn ngang? Để giữu uy tín với khách hàng, bạn được phải tập trung công việc để làm việc với hiệu suất cao hơn bình thường đuổi kịp tiến độ. Thậm chí bạn phải làm việc với hiệu suất gấp 2, 3 lần ngày thường. Nỗ lực làm việc hết mình giúp khách hàng đánh giá cao trách nhiệm cũng như năng lực của bạn. Nó cũng là yếu tố quyết định sự thành công của dự án!

Nghề Thiết kế thời trang

Xưa ta nghĩ “Ăn no, mặc ấm”, nay ta biết phải “Ăn ngon, mặc đẹp” - Đó là triết lý mới của cuộc sống hiện đại và cũng là động lực để ngành thời trang phát triển và nghề thiết kế thời trang (Fashion design) trở thành một trong những ngành thời thượng nhất ở Việt Nam.

Có những quan niệm về nghề thời trang là một nghề nhàn hạ, xa hoa. Họ nhìn ngành thời trang dưới góc nhìn của “thảm đỏ”, và chỉ thấy những nhà thiết kế rạng rỡ trên sân khấu, với thu nhập cao và người đẹp quanh mình. Rất ít người biết rằng sau không gian lộng lẫy, lung linh ánh sáng đèn màu và sự thán phục của đông đảo khán giả là biết bao cố gắng bền bỉ không mệt mỏi, là đam mê và mồ hôi, là lao động nghệ thuật thật sự... 

Hành trình “Đi bắt con nghệ thuật” của những bạn trẻ yêu mến ngành thời trang là một hành trình gian khó, nhiều thử thách, nhưng đặc biệt thú vị và hấp dẫn. Yêu thích nghề thời trang và mong muốn theo lĩnh vực này, bạn vừa phải tích lũy cho mình những kinh nghiệm nghề nghiệp, vừa phải có tố chất sáng tạo của những người nghệ sỹ.

Trong thực tế, nếu so sánh thời trang Việt Nam với thế giới thì quả là một sự so sánh thiếu thực tế. Chúng ta mới chỉ đang ở thời điểm chạy đà trước vạch xuất phát. “Vẫn còn thiếu một nền “công nghệ thời trang” đích thực và sự chuyên nghiệp trong quy trình đào tạo”.
 
Những phẩm chất cần có để thành công trong nghề thiết kế thời trang:

Năng khiếu tạo hình và óc thẩm mĩ

Thiết kế thời trang là một nghề nghiệp đặc thù, nó đòi hỏi năng khiếu như một yêu cầu bắt buộc. Đó là sự nhạy cảm về đường nét, màu sắc, kiểu dáng; là sự cảm nhận tốt về sự cân xứng và tỉ lệ; có cái nhìn vừa tổng thể vừa tỉ mỉ, chi tiết. Khả năng tạo hình và óc thẩm mỹ giúp biến các ý tưởng rất phong phú của bạn (như các trang phục lấy cảm hứng từ con vật, từ các công trình kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên hay họa tiết dân tộc...) thành các sản phẩm hoàn thiện, đẹp và tạo thoải mái, tự tin cho người mặc.

Yêu vẻ đẹp của con người. Đây là một trong những tố chất hàng đầu của nhà tạo mẫu. Không có tình yêu ấy bạn sẽ không tìm thấy niềm say mê đích thực để bền bỉ tiến trên con đường thiết kế thời trang đầy chông gai.

Sáng tạo và thực tế

Không nhà thiết kế thời trang nào có thể làm việc mà không có sự sáng tạo và phong cách. Ngành thời trang đang ở tình trạng biến chuyển không ngừng. Nhà thiết kế thời trang cần phải sẵn sàng ứng biến. Họ cần khả năng nhìn vào phong cách cũ và thấy được hướng mới để đưa vào bản thiết kế của mình. Họ cần khả năng cách tân và đưa cái mới lạ vào trang phục. Từ vẽ phác thảo đến thực hiện, nhà thiết kế cần năng lực về mỹ thuật và tính sáng tạo để thành công trong lĩnh vực này. Nhưng sáng tạo không thể xa rời thực tế, sự tự do sẽ khiến bạn đi chệch mục đích của thời trang. Bạn không sáng tạo các mẫu trang phục, phụ trang cho mình mà cho cộng đồng. Vậy hãy quan tâm đến giá trị sử dụng của nó, quan tâm đến sở thích của người sử dụng, chi phí giá thành…

Kiên trì, bền bỉ và cầu thị

Nghề thiết kế thời trang không dành cho người yếu tim. Nhà thiết kế thời trang phải có khả năng chịu được áp lực công việc. Làm việc với nhiều kiểu người hoặc nhóm người để đáp ứng thời hạn eo hẹp có thể gây căng thẳng. Những ai bước vào lĩnh vực này luôn phải sẵn sàng làm việc theo nhóm, và họ sẽ phát đạt do nhu cầu về thời hạn. Họ cũng phải có khả năng điều chỉnh được lời phê bình. Những lời phê bình trong lĩnh vực này có thể rất khó nghe. Nhà thiết kế thời trang thành công luôn biết cách học từ câu phê bình trong khi đang duy trì phong cách cá nhân của họ.

Đôi bàn tay khéo léo

Làm việc với các chất liệu vải sợi, từng đường kim, mũi chỉ, các chi tiết nhỏ, tỉ mỉ trên trang phục nên sự khéo léo là cần thiết. Hãy luyện tập cho mình sự khéo léo của đôi bàn tay nếu bạn muốn nuôi tiếp giấc mơ trở thành nhà tạo mẫu.

Vốn văn hóa rộng và khả năng ngoại ngữ

Vốn kiến thức, văn hóa chính là nguồn cảm hứng bất tận cho cảm hứng sáng tạo của bạn. Hãy tự hỏi, không am hiểu văn hóa Việt Nam sao có thể tạo nên những bộ trang phục mang đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Ngoại ngữ sẽ giúp các nhà thiết kế thời trang chủ động tiếp cận các xu hướng thời trang quốc tế. 

Hiểu biết về lịch sử thời trang

Đặt ra xu hướng không phải là một việc đơn giản. Nhà thiết kế thời trang phải thực hiện từng bước. Để làm được điều đó, họ cần hiểu biết về những phong cách trước đây và những biến động trong lịch sử thời trang. Họ cũng cần nhận thức về các sự kiện thời trang gần đây cũng như những tiến triển.

Biết cách kinh doanh

Một nhà tạo mẫu không chỉ có óc sáng tạo, bạn cần phải có khả năng kinh doanh nhất định. Lý do là thời trang cần phải kết hợp nhiều yếu tố, điều quan trọng là phải nhận biết được môi trường kinh doanh và hiểu các cơ chế đằng sau đó. Rất nhiều các trường dạy về thời trang hiện nay có xu hướng tăng thêm các môn dạy về kinh doanh trong chương trình đào tạo của mình. 

Sinh viên cần có đủ kiến thức để đàm phán hợp đồng, hoặc chọn lựa đối tác kinh doanh. Có thể nói rất nhiều các nhà thiết kế thành công hiện nay như Calvin Klein hoặc Tom Ford có thể tham gia vào mọi khía cạnh của công việc kinh doanh – từ các chiến lược cấp phép đến các chiến dịch quảng cáo cho các mẫu thời trang mới.

Và quan trọng nhất, bạn phải thực sự đam mê nghề nghiệp

Nghề Thiết kế nội thất

Nghề Thiết kế nội thất là một nghề kết hợp sự sáng tạo, kiến thức kỹ thuật và các kỹ năngkinh doanh. Nhà thiết kế nội thất làm việc với khách hàng và các chuyên gia thiết kế khác để phát triển các giải pháp thiết kế được an toàn, chức năng, hấp dẫn, và đáp ứng nhu cầu của những người sử dụng không gian.

Nghề TKNT  hiện nay khá phát triển, nhất là trong lĩnh vực thiết kế thương mại, quán café và văn phòng và nghề thiết kế nội thất trở thành nghề hot.

Đặc biệt, khi đời sống phát triển, loại hình căn hộ, nhất là căn hộ cao cấp xuất hiện ngày càng nhiều, càng có nhiều người quan tâm đến TKNT cho nhà ở. Trước đây, kiến trúc sư thường đảm nhận cả kiến trúc lẫn nội thất nhưng ngày nay, chủ nhà đòi hỏi nội thất không chỉ đẹp mà phải thể hiện cái gu thẩm mỹ riêng, đòi hỏi phải có người chuyên về TKNT đảm nhận.

Một trong những yếu tố khiến nghề này trở nên “thời thượng” đó là dễ xin việc, thu nhập không giới hạn con số. Không gian của mỗi ngôi nhà, mỗi căn phòng mà họ tạo ra là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, chưa từng có và nó được tạo ra bởi sự sáng tạo tự do của nhà TKNT.

Để trở thành một chuyên gia thiết kế, trang trí nội thất bạn cần những gì?

Yếu tố đầu tiên cần phải có đó là khiếu thẩm mỹ cao. Khả năng phối màu sắc và bày trí theo không gian cũng như thiết kế các vật liệu sao cho phải đảm bảo sự hài hòa với kiến trúc tổng thể lại vừa mang tính mỹ thuật cao cho công trình là điều sẽ quyết định bạn có phải là một dân nội thất chuyên nghiệp hay không.

Yếu tố thứ 2 quan trọng không kém đó là sự sáng tạo, khả năng quan sát, tìm tòi và học hỏi những xu hướng mới, chất liệu mới của thế giới để đảm bảo luôn mang lại cho khách hàng những mẫu thiết kế mốt nhất, sàng điệu nhất.

Người TKNT phải nắm vững được kết cấu, bố cục của công trình để phác thảo chi tiết nội thất bên trong cũng như cách bố trí các phòng sao cho vừa hợp lý, vừa đẹp. Do đó, người TKNT cần có óc sáng tạo và thẩm mỹ, có sự nhạy bén trong cách chọn lựa chất liệu, xu thế trang trí nội thất.

Một trong những yếu tố nữa cũng cần cho người thiết kế nội thất là sự sành điệu. Vì khách hàng đều là những người có điều kiện kinh tế, có hiểu biết, nên mình phải hiểu biết hơn khách hàng trong lĩnh vực mà mình làm. Có trình độ, hiểu biết, có khả năng chuyên môn mình mới có được lòng tin của khách hàng. "Người sành điệu" trong nghề TKNT  nghĩa là luôn nắm được xu hướng mới của thế giới, đặc biệt là việc hiểu về các chất liệu mới trên thị trường. Vì vậy, một người TKNT muốn giỏi phải là một người đi đây đi đó nhiều, đặc biệt là đi nước ngoài và luôn luôn quan sát.

Họa sĩ có thể làm việc một mình và có thể hoàn thành tác phẩm của mình không cần sự hợp tác của người khác. Trang trí nội thất thì khác hoàn toàn - bạn phải làm việc với kiến trúc sư công trình, các kỹ sư chuyên ngành, các nhà cung cấp vật liệu và ngay cả công nhân thi công hay sản xuất... Vì vậy kỹ năng làm việc cộng tác, giao tiếp và phối hợp với nhiều ngành nghề khác để công việc được triển khai nhẹ nhàng, đúng tiến độ cà chất lượng cũng cần được bạn rèn luyện.

TKNT là nghề đắt giá trong giới trẻ và đang "khát" nhân lực nhưng để thật sự nắm được "vàng" trong lĩnh vực này đòi hỏi người thiết kế cần phải hội tụ đủ những yếu tố trên để thành công với nghề.

Nghề Thiết kế mỹ thuật sân khấu

Nếu như cổng chào mang đến ấn tượng đầu tiên cho một sự kiện thì sân khấu chính là nơi thu hút mọi ánh nhìn của khán giả , nơi vinh danh doanh nghiệp và cũng chính là nơi diễn ra các sự kiện. Chính vì vậy, việc thiết kế, dàn dựng, thiết kế mỹ thuật sân khấu  là một yếu tố không thể thiếu góp phần vào sự thành công của tổ chức sự kiện. 

Một sân khấu đẹp không chỉ đảm bảo tính thẩm mĩ mà quan trọng hơn, nó phải đảm bảo tính thông tin và tính phù hợp. Tính thông tin là nội dung của sự kiện được truyền tải trên sân khấu thông qua các yếu tố cảm quan như: phông nền, ánh sáng, các chi tiết trang trí khác. Tính thông tin chính là yêu cầu cốt lõi cho một sân khấu đẹp. Tính phù hợp là sự phù hợp của thiết kế sân khấu với quy mô sự kiện, bản chất sự kiện và cảm nhận của các đối tượng khán giả. Và tất cả các tính chất đó lại được thể hiện thông qua tính thẩm mĩ. Thẩm mĩ thê hiện qua từng chi tiết của thiết kế sân khấu, bao gồm :  ý tưởng thiết kế và sự thể hiện ý tưởng thiết kế với một mức chi phí kinh tế nhất.

Người thiết kế mỹ thuật sân khấu chịu trách nhiệm cho việc thiết kế và giám sát tất cả các khía cạnh của cho một chương trình sân khấu. Cho dù quy mô sân khấu thiết kế lớn hay nhỏ, người thiết kế mỹ thuật sân khấu cũng phải phối hợp với những người thiết kế khác (trang phục, đạo cụ) để bảo đảm rằng chương trình diễn ra hoàn thiện nhất.

Người thiết kế mỹ thuật sân khấu sẽ không bao giờ ngừng học hỏi. Mỗi tác phẩm, dự án sẽ đưa ra những thách thức mới, những trở ngại mới, những động lực của con người mới và các vấn đề mới phải giải quyết. Bạn có thể gặp nhiều thất bại trên công việc. 

Nghề Điêu khắc

Điêu khắc là tác phẩm nghệ thuật ba chiều được tạo ra bằng cách tạo hình hoặc kết hợp vật liệu như kim loại, đá, thủy tinh, hoặc gỗ. Vật liệu cũng có thể được sử dụng như đất sét, dệt may, nhựa, polyme và các kim loại nhẹ nhàng hơn. Thuật ngữ này đã được mở rộng để công trình điêu khắc bao gồm cả không gian âm thanh, ánh sáng, không gian hư ảo và không gian tâm linh.

Các nhà điêu khắc làm việc bằng cách loại bỏ như khắc, hoặc họ có thể được lắp ráp như hàn, làm cứng như đúc. Trang trí bề mặt bằng sơn có thể được áp dụng. Điêu khắc đã được mô tả như là nghệ thuật tạo hình công nghiệp vì nó liên quan đến việc sử dụng các vật liệu có thể được đổ khuôn hoặc điều chế. Sản phẩm thu được là tác phẩm điêu khắc.

Điêu khắc là một hình thức quan trọng của nghệ thuật công cộng. Một bộ sưu tập nghệ thuật điêu khắc trong một khu vườn có thể được gọi là một khu vườn điêu khắc.

Một số kỹ năng cần thiết của người làm nghề điêu khắc:

- Nhận biết được một số loại gỗ thường dùng trong nghề điêu khắc gỗ.

- Sử dụng thành thạo các loại dụng cụ, thiết bị dùng cho nghề điêu khắc gỗ.

- Điêu khắc được các loại sản phẩm: Hoa văn, Phù điêu,con giống, tượng người, lèo tủ, bệ tủ, bệ sập theo các mẫu mã truyền thống của dân tộc.

- Lựa chọn và sử dụng các máy gia công gỗ vào một số công đoạn điêu khắc để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm;

- Quản lý được tổ sản xuất.

Nghề Gốm

Gốm là một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta từ ngàn đời nay, đồ gốm đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhân dân ta. Với trí sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo của người thợ gốm, gốm cổ Việt Nam đã trở thành một loại hình nghệ thuật mang tính dân gian sâu sắc.

Một số kỹ năng cần thiết của người làm nghề gốm:

- Sử dụng thành thạo dụng cụ tiện sửa cốt sản phẩm gốm

- Chọn được nguyên, vật liệu phù hợp với từng loại sản phẩm

- Sửa chữa được các loại dụng cụ làm đồ gốm

- Bảo quản các loại trang thiết bị, dụng cụ, vật liệu ngành gốm đạt yêu cầu kỹ thuật

- Sản xuất được một số sản phẩm đồ gốm gia dụng và gốm trang trí đạt yêu cầu kỹ thuật

- Làm được các công đoạn trang trí men lên sản phẩm gốm

- Tiện cốt, tạo mẫu và đổ khuôn được các loại sản phẩm gốm thông dụng

- Chắp gắn được sản phẩm mộc

- Chữa được một số lỗi hỏng trong khi gia công sản phẩm

- Vẽ được mẫu và gia công hoàn chỉnh được sản phẩm gốm

- Thiết kế mẫu trên dây chuyền công nghiệp

- Tính toán được mức độ khấu hao, mức giá thành của sản phẩm đồ gốm

- Tự tổ chức, phân tích đánh giá tình hình tạo mẫu và sản xuất đưa vào giải pháp xử lý các tình huống tương đối phức tạp trong hoạt động chuyên ngành.

Nghề Biểu diễn nhạc cụ

Người biểu diễn nhạc cụ (hay gọi là Nhạc công) là người thực hiện, biểu diễn các bản nhạc bằng các nhạc cụ với nhiều thể loại nhạc: pop, rock, jazz, giao hưởng... Mỗi nhạc công có thể chơi một hay nhiều loại nhạc cụ trong một dàn nhạc. Trong âm nhạc hiện tại, chỉ cần một nhạc công và một đàn organ là có thể biểu diễn. Dàn nhạc gồm nhiều nhạc công biểu diễn những tác phẩm đồ sộ có người chỉ huy gọi là dàn nhạc giao hưởng. Dàn nhạc chỉ có vài nhạc cụ biểu diễn những tác phẩm nhỏ không có chỉ huy gọi là dàn nhạc hòa tấu chuyên biểu diễn các tác phẩm hòa tấu. Đôi khi, các dàn nhạc hòa tấu có số nhạc cụ nhiều tương đương dàn nhạc giao hưởng.

Một số tố chất cần có khi theo học Biểu diễn nhạc cụ:

- Giàu cảm xúc, khả năng đồng cảm

- Có khả năng trình diễn, biểu diễn

- Khéo léo với các động tác vận động cơ thể

- Thoải mái và tự tin khi ở chỗ đông người

- Có niềm đam mê nghệ thuật, văn hóa

- Thích thể hiện mình thông qua nghệ thuật

- Thích học môn âm nhạc

Nghề Huấn luyện múa

Múa là một bộ môn nghệ thuật biểu diễn sử dụng ngôn ngữ hình thể để phản ánh tình cảm, hiện tượng của cuộc sống. Nguồn gốc của nghệ thuật múa chính là những hành động của con người trong đời sống, trong quá trình lao động cộng với sự quan sát thiên nhiên. Từ đó, các động tác múa có những thay đổi, cải tiến, đi đến khái quát nghệ thuật. Trong tiếng Việt, tùy tính chất của mà một loại hình được gọi bằng các tên khác nhau như: nhảy, múa, khiêu vũ..., trong đó khiêu vũ thường hướng đến dùng hoạt động cơ thể để diễn đạt theo âm nhạc nhằm chuyển tải những nội dung, tình cảm, suy nghĩ và ý tưởng.

Những kỹ năng cần có của một người Huấn luyện múa:

- Nắm vững phương pháp giảng dạy múa từ thị phạm, phân tích động tác đến khả năng truyền dạt, dẫn lớp...

- Hệ thống các động tác chính xác, chuẩn mực, biên bài tập có mục đích huấn luyện rõ ràng theo từng học kỳ.

- Nắm được các kết cấu biên bài tập cho các lớp tốt nghiệp, các chương trình báo cáo học tập của sinh viên, diễn viên.

- Có phương pháp lý luận chuyên ngành sư phạm, tư chất của một giáo viên chuyên nghiệp giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp văn hoá nghệ thuật chuyên nghiệp, các cơ sở đào tạo múa và các trung tâm văn hoá nghệ thuật.

Nghề Biên đạo múa

Biên đạo múa đến thời điểm này đã là một nghề được công chúng quan tâm và nhu cầu biên đạo trong các chương trình giải trí có đầu tư lớn là điều có thật. Có yếu tố thiên thời, địa lợi và sự nhìn nhận vai trò của nghệ thuật nhảy múa của công chúng thời gian gần đây chính là yếu tố nhân hòa để nghệ thuật nhảy múa nói chung và biên đạo loại hình nghệ thuật này nói riêng tạo dựng được vị trí quan trọng trong thị trường giải trí. Tuy nhiên, số người có thể làm được điều này còn quá ít so với số lượng biên đạo hiện có.

Biên đạo có giá thù lao lên đến vài chục triệu đồng cũng không quá hiếm. Một đơn vị sản xuất chương trình tiết lộ mức thù lao dành cho biên đạo có giá từ 10 triệu đến vài chục triệu đồng/bài nhảy. Tất nhiên, số biên đạo được nhận mức thù lao này thường là những người có tên tuổi. Ngay cả những thí sinh tốp 10 mùa giải đầu của chương trình Thử thách cùng bước nhảy cũng hái ra tiền sau khi rời cuộc thi. Các vũ công này kiêm thêm nghề biên đạo cho các bài diễn của ca sĩ. Thù lao biên đạo thấp nhất mà họ nhận được cũng ở mức 3 triệu đồng/bài diễn.

Một số phẩm chất cần thiết của nghề Biên đạo múa:

- Thích tìm tòi, khám phá, chịu khó học hỏi, nhiệt huyết, yêu nghề

- Nhanh nhạy nắm bắt các trào lưu, xu hướng nghệ thuật thế giới để khéo biến hóa trong quá trình xây dựng các tác phẩm múa

 tư duy sáng tạo nghệ thuật

- Chịu khó rèn luyện, học hỏi, bỏ nhiều công sức, tâm huyết, để đầu tư sáng tạo

Nghề Diễn viên điện ảnh

Diễn viên điện ảnh là một nghề nghiệp, một nghệ sĩ trong lĩnh vực "nghệ thuật thứ bảy". Diễn viên điện ảnh là một diễn viên làm việc với các công cụ như máy quay, đèn, đạo cụ và cùng cộng tác với đạo diễn, hoá trang, quay phim, bạn diễn (diễn viên khác) để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật, là một bộ phim. Đó có thể là một phim truyền hình hoặc là phim chiếu rạp.

Những tố chất giúp bạn thành công trong nghề Diễn viên điện ảnh

- Khả năng diễn xuất

- Khả năng nắm bắt các ý tưởng và óc tưởng tượng

- Sức khỏe tốt

- Khả năng làm việc dưới áp lực lớn

- Tính kiên trì, nhẫn nại

- Khả năng phối hợp trong công việc

- Không ngừng hoàn thiện bản thân

- Niềm đam mê nghề diễn viên điện ảnh

Và những điều sẽ cản trở bạn

- Bạn không có khả năng mang nhiều khuôn mặt, cùng lúc thể hiện nhiều tình cảm, cảm xúc… đối nghịch nhau

- Bạn không chịu được áp lực của công việc

- Bạn muốn một công việc nhàn nhã, không đòi hỏi nỗ lực, không cạnh tranh, va chạm

- Bạn không sẵn sàng cho những chuyến đi xa và cuộc sống thiếu tiện nghi

- Vốn sống của bạn nghèo nàn và đơn điệu

- Bạn không có tính kỷ luật và khả năng hợp tác, bạn bè dễ dàng bỏ cuộc, không kiên trì

Nghề Quản trị kinh doanh

Quản trị kinh doanh là việc thực hiện các hành vi quản trị để duy trì, thúc đẩy hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo sự tồn tại, vận hành và phát triển của toàn bộ doanh nghiệp. Nó bao gồm việc cân nhắc, tạo ra quy trình hệ thống thông qua quá trình tư duy và ra quyết định của nhà quản lý. Nhà quản lý cần có khả năng tạo động lực cho nhân viên, khả năng bao quát nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn nhân lực và vật lực để đạt được mục tiêu đề ra. Cụ thể hơn, nó bao gồm các quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều khiển và chỉ huy, kiểm tra và giám sát, điều chỉnh.

Học quản trị kinh doanh bạn sẽ được trang bị các kiến thức cơ bản về chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, quản trị kinh doanh, quản trị dự án, quản trị sản xuất, quản trị chất lượng, quản trị nguồn nhân lực, quản trị tài chính, quản trị marketing, quản trị văn phòng. Ngoài ra bạn còn được trang bị các nghiệp vụ về thống kê, kế toán, kiểm toán, ngoại thương, ngân hàng, chứng khoán, hợp đồng, văn bản...

Cử nhân tốt nghiệp các ngành thuộc nhóm Quản lý kinh doanh (Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp, Khoa học quản lý) có kỹ năng thực hiện toàn diện các chức năng quản trị doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực trên như: tạo lập doanh nghiệp mới; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch kinh doanh, chính sách kinh doanh, chương trình, dự án kinh doanh của doanh nghiệp; tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp; tổ chức, điều hành, kiểm soát quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; phân tích, chẩn đoán, đánh giá doanh nghiệp; tái cấu trúc và tổ chức lại doanh nghiệp cho thích ứng sự thay đổi môi trường.

Một số tố chất quan trọng của nghề Quản trị kinh doanh:

1. Biết định hướng chiến lược chính xác và bền vững, cả khi có cạnh tranh gay gắt.

2. Biết dự báo môi trường thương mại và phát triển kinh doanh trong những điều kiện đối đầu với mọi thử thách.

3. Nhạy bén nắm bắt và xử lý mọi thông tin liên quan, nhất là thông tin kinh tế xã hội và đầu tư phát triển.

4. Biết tổ chức công việc một cách khoa học, đặt công việc của cá nhân trong hệ thống kế hoạch chung.

5. Có kỹ năng giao tiếp và ứng xử linh hoạt trên cơ sở nâng cao sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa cá nhân, đơn vị và phía đối tác.

6. Biết công nhận và khích lệ các giá trị và thành tựu của người khác, dù giá trị đó là của người dưới quyền.

7. Biết lắng nghe và thấu hiểu, tránh nói nhiều và nói không đúng chỗ. Chỉ nên nói sau khi đã có đủ thông tin chắc chắn.

8. Có kỹ năng tư vấn và truyền thông về nghiệp vụ kinh tế và cung cách làm việc cho cộng sự khi cần thiết.

9. Biết im lặng đúng lúc và cũng biết nói thích hợp. "Im lặng là vàng, nhưng lời nói thích hợp lại là kim cương".

10. Biết ghi nhận và suy ngẫm trước những khác biệt trong ý nghĩ của người khác, từ đó soi rọi lại những ý tưởng của mình trong doanh nghiệp.

11. Biết chủ động thích nghi nhanh với các đổi thay trong môi trường kinh doanh để tồn tại và phát triển.

12. Biết linh hoạt (nhưng không tùy tiện) thay đổi quyết định khi thấy thật cần thiết vì lợi ích lâu dài của kinh doanh.

13. Biết xử lý căng thẳng và tự giải tỏa được stress khi phải đối đầu quyết liệt với mọi thử thách trong kinh doanh.

14. Luôn nhạy bén cập nhật những thông tin mới về tri thức tổng quát, kinh tế thương mại và luật lệ kinh doanh.

15. Mạnh về sức khoẻ tinh thần. Dám lãnh trách nhiệm khi bị sai sót. Chịu sửa sai và biết cải thiện khi lầm lỡ.

Nghề Bảo mẫu

Bảo mẫu là một nghề nghiệp trong xã hội, theo đó những cá nhân (thường là nữ và tuổi còn khá trẻ) sẽ đứng ra chăm sóc những trẻ em tại các trường mầm non hay mẫu giáo để được trả lương hay thù lao theo thoả thuận. Bảo mẫu có thể là những người vú em còn trẻ được thuê chăm sóc cho các con em tại gia đình của họ. Do bố mẹ của các em không có thời gian để chăm sóc tốt cho các em nên đã giao việc này cho bảo mẫu. Nghề bảo mẫu rất vất vả, phải chăm lo từng ly từng tý cho các em nhỏ, mặt khác lương và phụ cấp của nghề này tương đối thấp so với mặt bằng chung. Bảo mẫu là khái niệm rộng hơn các khái niệm như vú em, bồng em (trông em, chự em) vì bảo mẫu là một nghề nghiệp trong khi các khái niệm trên chỉ một công việc.

Công việc chính của người làm nghề bảo mẫu:

Một ngày của một bảo mẫu thường bắt đầu từ 6h30 sáng đến 17h30. Có mặt tại trường trước khi học sinh đến lớp để quét dọn, lau chùi bàn ghế. Khi học sinh vào lớp, bảo mẫu tiếp tục lo giặt giũ khăn mặt, mền gối, chuẩn bị bàn ăn cho các em. Giờ ăn trưa là thời gian bận rộn nhất trong ngày vì với sĩ số 40 học sinh cùng ăn một lúc là điều khá vất vả. Ăn xong, các bảo mẫu tiếp tục giúp học sinh đánh răng, rửa mặt, chuẩn bị chỗ ngủ trưa. Khi học sinh yên giấc, bảo mẫu mới được ăn trưa và nghỉ ngơi.

Hết giờ ngủ trưa, bảo mẫu giúp các em dọn dẹp chỗ ngủ, rửa mặt. Tiếp tục chuẩn bị giờ ăn xế rồi giúp các em chải đầu, chỉnh trang quần áo chuẩn bị ra về. Khi sân trường không còn bóng dáng học sinh, các bảo mẫu lại tiếp tục quét dọn lớp học.

Một số phẩm chất và kỹ năng cần thiết của người làm bảo mẫu:

- Yêu trẻ con

- Sự nhạy bén trong cách sắp xếp mọi việc cho khoa học

- Tính kiên trì, nhẫn nại

- Khả năng giao tiếp, tình cảm và sự nhiệt thành với trẻ

Nghề Giáo viên Mầm non

Nghề Giáo viên Mầm non là một nghề rất đặc biệt, là nhà giáo nhưng không chỉ “dạy” mà còn phải “dỗ”, không chỉ giáo dục mà còn chăm sóc và hơn hết đây là nghề làm vì “tình yêu”.

Trước hết để trở thành một giáo viên mầm non, thì người giáo viên phải có lòng yêu trẻ vì đặc thù của nghề giáo viên mầm non đòi hỏi ở các giáo viên tình yêu của người mẹ đối với trẻ. Một ngày, trẻ có gần 2/3 thời gian sinh hoạt ở trường với cô (không tính giờ trẻ ngủ ở nhà). Cô cho ăn, cô dỗ ngủ, cô dạy cho bé tất cả mọi điều cần thiết: Kỹ năng sống, kiến thức về môi trường xung quanh, về toán, về văn học, chữ viết, về thẩm mỹ, hội họa, âm nhạc, phát triển thể chất…và không những thế, trẻ còn mong chờ ở cô sự quan tâm, chăm sóc, sự giúp đỡ, trìu mến, bảo vệ trẻ. 

Tuy nhiên tình yêu của cô dành cho trẻ phải là tình yêu sáng suốt, tình yêu có cả sự dịu dàng và cả những yêu cầu mà trẻ phải thực hiện. Không chỉ yêu trẻ, mà giáo viên mầm non còn phải biết yêu điều mình dạy, nghĩa là yêu chính công việc của mình. Mỗi ngày 6 tiếng, 8 tiếng, có khi là 10 tiếng làm việc ở trường, nào tiếng trẻ khóc, nào là trẻ chạy va vào nhau ngã, trẻ đánh nhau, rồi soạn giáo án, làm đồ dùng dạy học,… Tất cả đè nặng lên đôi vai người giáo viên, thử hỏi nếu không yêu trẻ và yêu nghề thì làm sao giáo viên có thể làm hết khối lượng công việc ở trường mà vẫn dịu dàng và yêu thương với trẻ, chưa kể còn áp lực từ phía phụ huynh và áp lực từ chính cuộc sống. Yêu trẻ và yêu điều dạy cho trẻ là đặc thù chung của những giáo viên mầm non. Trong thời buổi kinh tế thị trường này, có những lúc tình cảm thầy trò cũng bị hiểu sai và tình yêu của cô dành cho trẻ đôi khi cũng bị người đời đánh đổi, tính toán chi li.  

Những bạn trẻ bắt đầu vào nghề và đang chập chững với nghề, để tồn tại và trở thành một giáo viên mầm non giỏi, trước hết hãy tập làm “Mẹ”. Yêu trẻ không chỉ bằng lời nói, bằng suy nghĩ mà bằng chính hành động, bởi: “Càng yêu nghề bao nhiêu, càng yêu người bấy nhiêu”. Nghề giáo viên mầm non với biết bao khó khăn, lo toan và áp lực, nhưng với tình yêu người, yêu nghề, những cô giáo mầm non hôm qua, hôm nay và mai sau đã và đang tiếp bước xây dựng trang sử 66 năm đổi mới ngành giáo dục mầm non ngày càng phát triển.

Nghề Giáo viên Tiểu học

Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục, bậc học đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu , những đường nét cơ bản của nhân cách. Do vậy giáo dục ở bậc tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng, với tính sư phạm đặc trưng.

Phương pháp giáo dục tiểu học phải thực hiện theo yêu cầu sau:

  • Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh.
  • Phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học.
  • Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng , vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
  • Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh.

Người Giáo viên Tiểu học trước hết phải là nhà giáo dục, có tác động tích cực đến học sinh thông qua bản thân nhân cách của mình. Bản thân nhân cách của người giáo viên có vai trò như một năng lực tổng hợp. Bên cạnh đó người giáo viên cần có những năng lực nghề nghiệp mới. Kết hợp với những năng lực truyền thống. Có thể kể ra những năng lực cần được hình thành cho người giáo viên như :

- Năng lực chẩn đoán: Tức là năng lực phát hiện và nhận biết đầy đủ, chính xác và kịp thời sự phát triển của học sinh, những nhu cầu được giáo dục của từng học sinh. Đối với giáo viên tiểu học đây là năng lực đặc biệt quan trọng vì sự phát triển về các mặt của học sinh ở lứa tuổi tiểu học diễn ra rất nhanh, nhưng lại không đồng đều.

- Năng lực đáp ứng: Đó là năng lực đưa ra được những nội dung và biện pháp giáo dục đúng đắn , kịp thời , phù hợp với nhu cầu của người học và yêu cầu của mục tiêu giáo dục.

- Năng lực đánh giá: Đó là năng lực nhìn nhận sự thay đổi trong nhận thức , kỹ năng thái độ và tình cảm của học sinh.Năng lực đánh giá giúp nhìn nhận tính đúng đắn của chẩn đoán và đáp ứng.

- Năng lực thiết lập mối quan hệ thuận lợi với người khác: Như quan hệ đồng nghiệp, quan hệ với phụ huynh học sinh và nhất là quan hệ với học sinh.

- Năng lực triển khai chương trình dạy học: Đó là năng lực tiến hành dạy học và giáo dục. Căn cứ vào mục đích và nội dung giáo dục và dạy học đã được quy định, nhưng lại phù hợp với đặc điểm của đối tượng.

- Năng lực đáp ứng với trách nhiệm xã hội: Đó là năng lực tạo nên những điều kiện thuận lợi cho giáo dục trong nhà trường và từ cuộc sống bên ngoài nhà trường.

Một số kỹ năng quan trọng của nghề Giáo viên Tiểu học:

- Kỹ năng thể hiện sự mẫu mực của người giáo viên tiểu học: Do đặc trưng bậc học, người giáo viên tiểu học ngay từ những tiếp xúc ban đầu với học sinh và trong suốt thời gian hành nghề dài lâu, luôn cần có kỹ năng thể hiện, sự mẫu mực ( phong thái, hành vi, cư xử… ) như một trong các điều kiện để hành nghề dạy học.

- Kỹ năng ngôn ngữ sư phạm: Sử dụng ngôn ngữ bảo đảm tính sư phạm, giản dị, trong sáng phù hợp đối tượng.

- Kỹ năng viết chữ, trình bầy bảng: Điểm nổi bật của giáo viên tiểu học so với giáo viên các bậc học khác, phải có kỹ năng viết đúng, viết đẹp, trình bày bảng khoa học, thẩm mỹ trong giờ học.

- Kỹ năng giao tiếp sư phạm: nhằm giải quyết tốt các mối quan hệ với đồng nghiệp, quan hệ thày trò, quan hệ với phụ huynh học sinh, quan hệ với cộng đồng xã hội và giải quyết tốt quan hệ giữa các học sinh trong lớp.

- Kỹ năng giáo dục: Các kỹ năng tiến hành các hoạt động giáo dục học sinh trong và ngoài giờ lên lớp.

Nghề Giáo viên Phổ thông (cấp 2-3)

Giáo viên Phổ thông không chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà phải là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động học tập tìm tòi khám phá, giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức mới. Giáo viên phải có năng lực đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ kiểu dạy tập trung vào vai trò giáo viên và hoạt động dạy sang kiểu dạy tập trung vào vai trò của học sinh và hoạt động học, từ cách dạy thông báo - giải thích - minh hoạ sang cách dạy hoạt động tìm tòi khám phá.

Trong bối cảnh kĩ thuật công nghệ phát triển nhanh, tạo ra sự chuyển dịch định hướng giá trị, giáo viên trước hết phải là nhà giáo dục có năng lực phát triển ở học sinh về cảm xúc, thái độ, hành vi, bảo đảm người học làm chủ được và biết ứng dụng hợp lí tri thức học được vào cuộc sống bản thân, gia đình, cộng đồng. Bằng chính nhân cách của mình, giáo viên tác động tích cực đến sự hình thành nhân cách của học sinh, giáo viên phải là một công dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xã hội, hăng hái tham gia vào sự phát triển của cộng đồng, là nhân vật chủ yếu góp phần hình thành bầu không khí dân chủ trong lớp học, trong nhà trường, có lòng yêu giới trẻ và có khả năng tương tác với giới trẻ.

Người giáo viên phải có ý thức, có nhu cầu, có tiềm năng không ngừng tự hoàn thiện nhân cách, đạo đức, lối sống, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát huy tính chủ động, độc lập, sáng tạo trong hoạt động sư phạm, biết phối hợp nhịp nhàng với tập thể sư phạm nhà trường trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục. Quá trình đào tạo ở trường sư phạm chỉ là sự đào tạo ban đầu, là cơ sở cho quá trình đào tạo tiếp theo trong đó sự tự học, tự đào tạo đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành đạt của mỗi giáo viên. Giáo viên phải có năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học giáo dục bằng con đường tổng kết kinh nghiệm, phát huy sáng kiến, thực nghiệm sư phạm.

Giáo viên trung học là giáo viên môn học: mỗi giáo viên dạy một hoặc hai môn có quan hệ chuyên môn gần gũi, thực hiện chức năng giáo dục học sinh (nghĩa hẹp) chủ yếu thông qua giảng dạy môn học.

Những giáo viên được phân công làm chủ nhiệm lớp, công tác Đoàn, Đội, hoạt động ngoài giờ lên lớp... có phạm vi hoạt động giáo dục rộng hơn.

Đối tượng của giáo viên trung học là học sinh lứa tuổi từ 11 đến 18 tuổi, nên hoạt động nghề nghiệp của giáo viên trung học đa dạng, phức tạp. Giáo viên phải đạt yêu cầu cao về phẩm chất, năng lực chuyên môn nghiệp vụ mới đáp ứng được nhu cầu, trình độ nhận thức đã khá phát triển của học sinh trung học.

Bối cảnh hiện nay đòi hỏi giáo viên trung học phải có trình độ tin học và sử dụng phương tiện công nghệ thông tin trong dạy học, trình độ ngoại ngữ mới theo kịp yêu cầu phát triển nội dung, đổi mới phương pháp dạy học môn học của mình ở trường THCS và THPT.

Các năng lực cần có của một người Giáo viên Trung học:

- Năng lực tìm hiểu đối tượng, môi trường giáo dục;

- Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục;

- Năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục (gồm năng lực dạy học và năng lực giáo dục nghĩa hẹp);

- Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục;

- Năng lực hoạt động xã hội ;

- Năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục;

- Năng lực phát triển nghề nghiệp.

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay cần đặc biệt nhấn mạnh các năng lực chẩn đoán, đánh giá, giải quyết các vấn đề và cần chú ý những yêu cầu mới về năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục. 

Nghề Giáo viên Dạy nghề

Qua hơn 25 năm đổi mới và từng bước tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và đã có những chuyển biến tích cực về kinh tế, chính trị, xã hội. Cùng với sự phát triển của đất nước, hệ thống dạy nghề cũng lớn mạnh lên, đội ngũ giáo viên dạy nghề nước ta đã góp phần đào tạo cho đất nước nguồn lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các cấp trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có ý thức, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, có năng lực ngoại ngữ, có tri thức xã hội... đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng.

Để hoàn thành sứ mệnh của mình, đội ngũ giáo viên dạy nghề đã phải vượt qua mọi khó khăn, trở ngại, làm việc tận tuỵ để truyền thụ tri thức cho học sinh, sinh viên những kiến thức chung, hiểu biết về pháp luật, kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự... truyền thụ kiến thức văn hoá, kỹ thuật cơ sở như hình hoạ, vẽ kỹ thuật, điện kỹ thuật... và chuyên môn nghề nghiệp như lý thuyết nghề, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên.

Đội ngũ giáo viên dạy nghề còn dày công giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ và hành vi cho học sinh, sinh viên giúp đỡ họ trở thành người có nhân cách, biết đối nhân, xử thế, biết sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, biết làm giàu chính đáng cho bản thân và cộng đồng bằng kỹ năng nghề nghiệp của mình. Không những thế đội ngũ giáo viên dạy nghề còn dốc sức mình tạo cho học sinh, sinh viên tiềm năng tiếp tục phát triển và trang bị cho học sinh, sinh viên những tri thức vào đời ngay trên ghế nhà trường. Vì thế, học sinh sau, sinh viên khi học xong dễ dàng thích nghi với sự thay đổi của đời sống xã hội...

Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đội ngũ giáo viên dạy nghề đã ngày càng phát triển về số lượng, phù hợp về cơ cấu ngành nghề, không ngừng nâng cao năng lực. Đa phần giáo viên dạy nghề hiện có đủ trình độ chuyên môn, trình độ kỹ năng nghề, khả năng hiểu biết thực tế, trình độ tin học, ngoại ngữ, sư phạm, khả năng nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, phương pháp giảng dạy mới vào quá trình đào tạo và ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực.

Những đặc điểm của một người Giáo viên Trung học:

Những quan điểm về đào tạo nghề hiện đại đang đặt ra những yêu cầu gắt gao cả về mặt phẩm chất và năng lực đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề. Để đào tạo được nguồn nhân lực kỹ thuật có trình độ văn hoá cao, có năng lực chuyên môn giỏi, có khả năng thích ứng linh hoạt và sáng tạo đối với các yêu cầu thay đổi của khoa học công nghệ và sản xuất dịch vụ..., đội ngũ người giáo viên dạy nghề phải có những thay đổi cơ bản về mô hình chung. Có thể hình dung ở một số đặc điểm sau:

  • Trình độ văn hoá tốt nghiệp THPT và trình độ đào tạo chuyên môn bậc đại học phải là trình độ tối thiểu của người giáo viên dạy nghề. Trong thời gian tới đây, phần đáng kể giáo viên dạy nghề có trình độ tối thiểu về chuyên môn phải là trình độ sau đại học (Thạc sĩ và Tiến sĩ). Đào tạo giáo viên dạy nghề là nhiệm vụ chung của hệ thống giáo dục đại học (các trường ĐHSPKT và công nghệ)
  • Cơ cấu ngành nghề đào tạo ngày càng rộng để hình thành đội ngũ giáo viên dạy nghề theo các lĩnh vực khoa học - công nghệ chứ không theo các ngành nghề kinh tế như hiện nay. Giáo viên dạy nghề phải thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là công nghệ mới.
  • Kiến thức và năng lực sư phạm hiện đại có vai trò quyết định đến năng lực hoạt động của người giáo viên dạy nghề, trong đó việc hình thành nhân cách thái độ của con người, việc phát triển năng lực tư duy nhận thức trở nên quan trọng hơn việc hình thành kĩ năng kĩ xảo hoạt động lao động nghề nghiệp thuần tuý.
  • Giáo viên dạy nghề phải sử dụng thành thạo công nghệ dạy học hiện đại. Các phương tiện thông tin (máy tính, đa phương tiện, mô hình ảo...) là những phương tiện lao động hàng ngày của giáo viên . Quá trình người giáo viên vừa dạy - vừa học xen kẽ với nhau (học suốt đời).
  • Người giáo viên dạy nghề cần có năng lực tốt trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học, thể hiện vừa mềm dẻo, linh hoạt nhưng khách quan, công bằng. Sử dụng và khai thác tốt các phương thức kiểm tra, đánh giá hiện đại, sử dụng máy tính…
  • Trình độ nhận thức xã hội, ngoại ngữ trở thành nhân tố quan trọng trong quá trình đào tạo và phát triển nghề nghiệp của giáo viên dạy nghề. Ngoại ngữ trở thành chìa khóa mở cửa kho tàng tri thức nhân loại, giúp người giáo viên dạy nghề nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật công nghệ mới của thế giới.

Nghề Giảng viên Đại học, Cao đẳng

Giảng viên đại học, Cao đẳng được định nghĩa trong ba chức năng chính sau đây:

1) Nhà giáo

2) Nhà khoa học

3) Nhà cung ứng dịch vụ cho cộng đồng.

Giảng viên =  Nhà giáo + Nhà khoa học + Nhà cung ứng dịch vụ

1) Giảng viên - Nhà giáo

Đây là vai trò truyền thống, nhưng quan trọng và tiên quyết đối với một giảng viên. Một giảng viên giỏi trước hết phải là một người Thầy giỏi.

Theo các nhà giáo dục thế giới thì một giảng viên tòan diện là người có (được trang bị) 4 nhóm kiến thức/ kỹ năng sau:

Kiến thức chuyên ngành: kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành và chuyên môn học mà mình giảng dạy. Tuy nói rằng đây là điều kiện cần và tiên quyết, nhưng hiện nay do lực lượng giảng viên mỏng, ở khá nhiều trường, các giảng viên phải giảng dạy cùng một lúc nhiều môn học (dù có thể cùng một chuyên ngành hẹp) dẫn đến việc ngay cả kiến thức chuyên môn sâu cũng chưa đảm bảo. 

Kiến thức về chương trình đào tạo: tuy mỗi giảng viên đều đi chuyên về một chuyên ngành nhất định, nhưng để đảm bảo tính liên thông, gắn kết giữa các môn học thì giảng viên phải được trang bị (hoặc tự trang bị) các kiến thức về cả chương trình giảng dạy. Những kiến thức này quan trọng vì nó cho biết vị trí của chúng ta trong bức tranh tổng thể, nó cung cấp thông tin về vai trò và sự tương tác giữa một chuyên ngành với các chuyên ngành khác trong cùng một lĩnh vực và kể cả giữa các chuyên ngành trong cc lĩnh vực khc nhau. Khối kiến thức này quan trọng vì nếu không biết được vị trí và các tương tác trong bức tranh tổng thể, kiến thức chuyên ngành hẹp cung cấp cho sinh viên trở nên khô cứng và có độ ứng dụng thấp. 

Xu hướng đào tạo đại học hiện nay là đào tạo chuyên sâu kết hợp với cung cấp tư duy liên ngành, đa ngành, đa lĩnh vực (và đa văn hóa) vì chính những kiến thức này sẽ giúp người lao động thích nghi tốt trong các bối cảnh làm việc nhóm, dự án – mà ở đó họ sẽ phải cộng tác với cá nhân từ các chuyên ngành rất khác biệt để cùng nhau giải các bài toán đa lĩnh vực. 

Kiến thức và kỹ năng về dạy và học: bao gồm khối kiến thức về phương pháp luận, kỹ thuật dạy và học nói chung và dạy/ học trong từng chuyên ngành cụ thể. Bên cạnh phương pháp chung thì mỗi chuyên ngành (thậm chí từng môn học hoặc cùng môn học nhưng khác đối tượng học) đều có những đặc thù riêng biệt đòi hỏi phải có những phương pháp tiếp cận khác nhau. 

Hiện nay chúng ta đang coi thường khối kiến thức này. Mặc dù để trở thành giảng viên chính thức, các giảng viên đại học đều phải học và thi các môn học về lý luận về phương pháp giảng dạy đại học. Tuy nhiên, quan sát cho thấy nội dung và phương pháp giảng dạy của bản thân nhóm môn học này cũng đề khá cổ điển, không được thường xuyên cập nhật và xa rời với thực tiễn giảng dạy đại học nói chung và giảng dạy trong từng chuyên ngành nhỏ nói riêng. Để thay đổi diện mạo và chất lượng dạy và học hiện nay ở các trường đại học, cần đầu tư nhiều hơn để nâng cấp phương pháp và kỹ thuật giảng dạy của giảng viên. 

Kiến thức về môi trường giáo dục, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo dục, giá trị giáo dục… Đây có thể coi là khối kiến thức cơ bản nhất làm nền tảng cho các hoạt động dạy và học. Chỉ khi mỗi giảng viên hiểu rõ được các sứ mệnh, giá trị cốt lõi, và các mục tiêu chính của hệ thống giáo dục và môi trường giáo dục thì việc giảng dạy mới đi đúng định hướng và có ý nghĩa xã hội. 

Sự quay lưng, hay không nắm chắc những giá trị gốc của một nền giáo dục dẫn đến những lệch lạc trong văn hóa giáo dục. Từ chuyện quay cóp trong thi cử, vi phạm bản quyền trong học tập và nghiên cứu, tính phi dân chủ trong khoa học đến thái độ học tập và thái độ ứng xử công dân trong cuộc sống đều không được truyền thông đầy đủ và khắc họa đúng mực. Thực tế, giảng viên đại học không trực tiếp dạy đạo đức nhưng phải xác lập được cho sinh viên nhận thức đúng đắn về các giá trị gốc của giáo dục và đạo đức, mà cụ thể là đạo đức trong từng nghề nghiệp cụ thể. 

Mặt khác kiến thức về hệ thống giáo dục, sứ mệnh và các mục tiêu gio dục còn là kim chỉ nam cho giảng viên trong soạn bài giảng, giáo trình, lựa chọn phương pháp giảng dạy cho những đối tượng người học khác nhau. Tình trạng khá phổ biến của các giảng viên là không phân biệt đối tượng trong giảng dạy, một bộ giáo trình một bài giảng cho cả cao đẳng, đại học, thậm chí cả sau đại học. Điều này một phần do quán tính, phần khác do không nắm được sự khác biệt trong mục tiêu đào tạo của từng loại hình. 

2) Giảng viên - nhà khoa học

Ở vai trò thứ hai này, giảng viên thực hiện vai trò nhà khoa học với chức năng giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải. Nghiên cứu khoa học, tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về thực tiễn đời sống và công bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng (cộng đồng khoa học, x hội nói chung, trong nước và quốc tế) là ba chức năng chính của một nhà khoa học. Từ đây có hai xu hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu cơ bản (basic research) và nghiên cứu ứng dụng (applied research). Khác với nghiên cứu cơ bản mang tính giải thích và dự báo các vấn đề chưa khai phá của tự nhiên và xã hội, nghiên cứu ứng dụng là loại nghiên cứu hướng đến việc ứng dụng các kết quả của nghiên cứu cơ bản vào giải quyết các vấn đề cụ thể của xã hội. Thông thường nghiên cứu cơ bản được coi là vai trò chính của các giảng viên đại học. Còn nghiên cứu ứng dụng mang tính công nghệ thường là kết quả của mối liên kết giữa các nhà khoa học và nhà ứng dụng (các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội). Do vậy nghiên cứu ứng dụng thường có màu sắc của các dự án tư vấn được đặt hàng bởi cộng đồng doanh nghiệp (và do doanh nghiệp tài trợ).

Trong bối cảnh hiện nay, khi chưa có nhiều điều kiện đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, chúng ta cần có chiến lược tận dụng kết quả nghiên cứu cơ bản của các quốc gia tiên tiến. Do vậy, có thể trong giai đoạn hiện nay, chúng ta nên khuyến khích các giảng viên đại học thực hiện các nghiên cứu mang tính tổng kết lý thuyết ngành (literature review) và tìm ra những hướng ứng dụng của các lý thuyết này. Thực tế tổng kết lý thuyết là công việc đầu tiên và hết sức quan trọng của mỗi nhà nghiên cứu, nó mang lại những kiến thức hết sức quan trọng về thành tựu khoa học trong từng chuyên ngành và các định hướng nghiên cứu của từng ngành. 

Nghiên cứu khoa học phải đi kèm với công bố kết quả nghiên cứu. Điều này có hai ý nghĩa. Thứ nhất, công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành uy tín chính là thước đo chất lượng có ý nghĩa nhất đối với một công trình nghiên cứu. Thứ hai, chỉ khi được công bố rộng rãi và đi vào ứng dụng nghiên cứu khoa học mới hoàn thành sứ mệnh xã hội của mình. Và như vậy trong vai trò nhà khoa học, giảng viên đại học không chỉ phải nắm vững kiến thức chuyên môn, phương pháp nghiên cứu mà còn phải có kỹ năng viết báo khoa học.

3) Giảng viên - nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội

Đây là một vai trò mà rất nhiều giảng viên đại học Việt Nam đang thực hiện – nó cũng là một vai trò mà xã hội đánh giá cao và kỳ vọng ở các giảng viên. Ở vai trò này, giảng viên cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trường, cho sinh viên, cho các tổ chức x hội – đoàn thể, cho cộng đồng và cho x hội nĩi chung. Cụ thể đối với nhà trường và sinh viên, một giảng viên cần thực hiện các dịch vụ như tham gia công tác quản lý, cc cơng việc hnh chính, tham gia cc tổ chức x hội, cố vấn cho sinh vin, lin hệ thực tập, tìm chỗ lm cho sinh vin… Với ngnh của mình, giảng vin lm phản biện cho các tạp chí khoa học, tham dự v tổ chức cc hội thảo khoa học.

Đối với cộng đồng, giảng viên trong vai trò của một chuyên gia cũng thực hiện các dịch vụ như tư vấn, cung cấp thông tin, viết báo. Trong chức năng này, giảng viên đóng vai trò là cầu nối giữa khoa học và xã hội, để đưa nhanh các kiến thức khoa học vào đời sống cộng đồng. Viết báo thời sự (khác với báo khoa học) là một chức năng khá quan trọng và có ý nghĩa lớn trong việc truyền bá kiến thức khoa học và nâng cao dân trí.

Nghề Giáo viên khuyết tật

Nghề Giáo viên khuyết tật là một nghề đặc biệt và đang trong tình trạng thiếu thốn trầm trọng.

Từ năm 2001 đến nay, cả nước chỉ có có 3 trường đại học và 2 trường cao đẳng có tuyển sinh ngành giáo dục đặc biệt.

Dù mục tiêu của giáo dục là đến năm 2005 có 50% trẻ khuyết tật được đi học và đến năm 2010 là 70%, nhưng đến nay tại Việt Nam chỉ có khoảng 200 chuyên gia về lý luận và thực hành trong giáo dục trẻ khuyết tật.

Ông Nguyễn Đức Minh, Phó giám đốc Viện Chiến lược và chương trình giáo dục, nhận xét: “Với hơn 1 triệu trẻ khuyết tật cần được chăm sóc, giáo dục, thì số lượng trên còn quá ít để có thể đáp ứng đòi hỏi tối thiểu của ngành”.

Còn theo ông Phan Hoàng Dũng, Trung tâm nghiên cứu Giáo dục trẻ khuyết tật TP HCM, hàng trăm giáo viên dạy tật học đang giảng dạy có nhiều kinh nghiệm, nhưng phần đông số này lấy từ giáo viên phổ thông chuyển sang, chỉ được tập huấn những khóa ngắn hạn. Đối với những người được đào tạo cử nhân giáo dục chuyên bằng 2, số lượng vừa ít, vừa hạn chế khả năng xử lý thực tế, chưa có kỹ năng sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho người khuyết tật.

Nguyễn Thị Thanh Bình, Trưởng bộ môn giáo dục đặc biệt ĐH Sư phạm TP HCM, nhận xét, giáo viên dạy trẻ khuyết tật không chỉ lo toan, trăn trở, loay hoay học hỏi lẫn nhau một cách tự phát mà còn thiếu thốn các trang thiết bị, tài liệu tham khảo, kinh phí…

Để cải tạo tình trạng này, ông Dũng đề xuất trong quá trình đào tạo nên dành nhiều thời gian cho sinh viên làm việc với các trường khuyết tật, để đào tạo ra những cử nhân có khả năng dạy trực tiếp cho trẻ khuyết tật. Ngoài ra, ở trường đào tạo nên trang bị cho sinh viên khả năng và tư cách pháp nhân đứng lớp ở một bậc học cụ thể. Có như vậy, các trường chuyên biệt, hòa nhập mới bố trí công tác theo quy chế giáo viên. “Đây chính là lực lượng chủ lực đưa giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam phát triển cùng với các nước trong khu vực và thế giới”, ông Dũng khẳng định.

Nghề Quản lý giáo dục

Trình độ kiến thức

Cử nhân ngành Quản lý giáo dục được trang bị có hệ thống các khối kiến thứ sau:

- Kiến thức tổng quát của khối ngành khoa học xã hội và khoa học nhân văn.

- Kiến thức cơ bản, nền tảng, kiến thức cơ sở ngành của khoa học giáo dục và khoa học tâm lý.

- Kiến thức chuyên ngành của khoa học quản lý giáo dục.

Kiến thức bổ trợ: Tiếng Anh trình độ B

Năng lực nhận thức, tư duy, kỹ năng thực hành

Cử nhân Giáo dục, chuyên ngành Quản lý giáo dục được đào tạo theo hướng chuyên nghiệp hoá với các kỹ năng thực hành để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Những kỹ năng đó bao gồm:

- Kỹ năng giao tiếp, hợp tác, làm việc nhóm.

- Kỹ năng quan sát, phán đoán và giải quyết vấn đề.

- Năng lực tự học

- Năng lực ngôn ngữ, ngoại ngữ

- Khả năng chịu đựng được áp lực công việc cao, thích ứng với cái mới.

- Kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, nghiên cứu, khả năng tư duy logic, sáng tạo và ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn.

- Kỹ năng lắng nghe và gây ảnh hưởng.

- Kỹ năng quản lý.

- Kỹ năng sư phạm.

Phẩm chất nhân văn

   Cử nhân ngành Giáo dục, Quản lý giáo dục được đào tạo theo mục tiêu vừa hồng vừa chuyêncó tri thức vững vàng và những phẩm chất nhân văn tốt đẹp.

Chủ động, tự giác, linh hoạt;

- Có đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm;

- Cảm thông, quan tâm và có ý thức trách nhiệm với người khác

- Trung thực, chân thành.

- Tôn trọng pháp luật, nội qui, kỷ luật.

- Khách quan, công bằng.

- Cầu tiến, ham học.

Tự tin, lạc quan

Vị trí làm việc

   Cử nhân chuyên ngành Quản lý giáo dục có thể làm việc ở các cơ sở nghiên cứu, cơ sở giáo dục đào tạo, cơ sở tư vấn, các cơ sở hoạt động các lĩnh vực khác có liên quan.

Cơ hội học lên trình độ cao hơn

   Cử nhân chuyên ngành Quản lý giáo dục có thể theo học bậc Thạc sĩ các chuyên ngành Giáo dục học, Quản lý giáo dục,…

Nghề Hội họa (Họa sỹ)

Hội họa là một ngành nghệ thuật trong đó con người sử dụng màu vẽ để tô lên một bề mặt như là giấy, hoặc vải, để thể hiện các ý tưởng nghệ thuật. Thông thường, công việc này do họa sỹ thực hiên. (Họa sỹ là từ dùng để chỉ những người coi hội họa là nghề nghiệp của mình). Kết quả của công việc đó là các tác phẩm hội họa hay còn gọi là các tranh vẽ.

Hội họa là một trong những loại hình nghệ thuật quan trọng và phổ biến nhất. Nói cách khác, hội họa là một ngôn ngữ để truyền đạt ý tưởng của người nghệ sỹ bằng các tác phẩm hội họa sử dụng kỹ thuật (nghệ) và phương pháp (thuật) của họa sỹ.

Nghề hội họa là niềm mơ ước, là con đường sự nghiệp mong muốn nhất của những người có niềm đam mê nghệ thuật. Tuy nhiên, để theo đuổi được nghề hội họa lại là cả một con đường dài chông gai; nó yêu cầu bạn phải có thật nhiều quyết tâm và sự kiên trì. Nghề hội họa cũng đòi hỏi bạn phải có một nguồn vốn lớn để tiếp thị, quảng cáo và chuyên sâu vào một phong cách được thị trường đón nhận, hay nói cách khác là có tính thương mại cao.

Điều đó có nghĩa là bán được các tác phẩm nghệ thuật ban đầu của bạn là một kinh nghiệm vô cùng thỏa đáng và là lý do mà rất nhiều người hiến thân cho quá trình nghệ thuật. Điều quan trọng nhất cần phải lưu ý với lựa chọn nghề nghiệp này là bạn sẽ khá tốn thời gian và công sức để trở thành một họa sỹ thực thụ.

Phải mất rất nhiều quyết tâm, làm việc chăm chỉ, việc mua bán khó khăn và sự kiên trì để bắt đầu sự nghiệp hội họa. Bạn cần phải vẽ được những bức tranh mà mọi người muốn mua. Bạn có sẵn sàng thay đổi phong cách và chủ đề của mình để thu hút nhiều khách hàng hơn không? Bạn sẽ có hoa hồng không? Bạn sẽ vẽ theo yêu cầu về kích thước, màu sắc và chủ thể không? Trở thành một họa sĩ thực thụ không phải thần kì như việc sở hữu một cây đũa thần. Bạn cũng cần phải tự quảng cáo cho bản thân và các tác phẩm nghệ thuật của bạn. Trở thành một họa sỹ là có thể những để kiếm sống bằng nghề họa sỹ thì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.

Nghề Diễn viên kịch

Kịch là một môn nghệ thuật sân khấu, một trong ba phương thức phản ánh hiện thực của văn học. Mặc dù kịch bản văn học vẫn có thể đọc như các tác phẩm văn học khác, nhưng kịch chủ yếu để biểu diễn trên sân khấu.

Đặc trưng của bộ môn nghệ thuật này là phải hành cuộc sống bằng các hành động kịch, thông qua các xung đột tính cách xảy ra trong quá trình xung đột xã hội, được khái quát và trình bày trong một cốt truyện chặt chẽ với độ dài thời gian không quá lớn.

Căn cứ vào nội dung kịch, có thể chia thành các thể loại: hài kịch, bi kịch, bi hài kịch, chính kịch... Cũng có thể căn cứ vào nội dung của các đề tài mà chia kịch thành: kịch cổ điển, kịch dân gian, kịch thần thoại, kịch hiện đại... Một cách phân chia khác dựa theo chính thời gian biểu diễn, có kịch ngắn, kịch dài.

Diễn viên kịch là một nghề biểu diễn. Trên sân khấu hoặc trên màn ảnh, họ dùng lời thoại và khả năng diễn xuất của mình để làm sống dậy các nhân vật.

Diễn viên kịch nắm bắt các kỹ thuật điều hòa cử chỉ và nghệ thuật diễn đạt, đôi khi là hát hoặc múa. Trong kịch, trong phim ảnh hoặc trên truyền hình, họ thể hiện những nhân vật rất thật, rất đời thường đối với khán giả. Trên radio hoặc khi lồng tiếng trong phòng thu, công việt của họ dựa vào giọng nói là chính. Họ cũng có thể đóng quảng cáo, đọc các đoạn kịch trên tivi hoặc trên màn ảnh, hoặc có thể ghi âm một câu chuyện cho thiếu nhi trên CD.

Diễn viên kịch làm việc trên sân khấu lớn, nhỏ, trong các nhà biểu diễn, trên truyền hình hoặc đóng phim nhựa. Nguồn thu nhập của họ là tiền thù lao. Hiếm có được một vài diễn viên đạt được thù lao lớn, thường là trong các công ty kịch nghệ lớn.

Yêu cầu công việc của một Diễn viên kịch:

- Linh hoạt: diễn viên kịch cần phải biết thể hiện những vai khác nhau phục vụ cho việc diễn xuất thường xuyên.

- Sáng tạo: họ cần phải chứng minh sức sáng tạo và trí tưởng tượng để làm tăng sức sống cho nhân vật mà mình thể hiện.

- Nhạy cảm: điều quan trọng là hiểu được tâm lý nhân vật để có thể diễn xuất.

- Nghiêm khắc: cần phải có một trí nhớ và kỹ thuật làm việc tốt để có thể nhớ được những câu thoại dài.

Một số tố chất cần có khi theo nghề Diễn viên kịch:

- Giàu cảm xúc, khả năng đồng cảm

- Có khả năng trình diễn, biểu diễn

- Khéo léo với các động tác vận động cơ thể

- Thoải mái và tự tin khi ở chỗ đông người

- Có niềm đam mê nghệ thuật, văn hóa

- Thích thể hiện mình thông qua nghệ thuật

- Thích học môn âm nhạc

Nghề Công nghệ Điện ảnh - Truyền hình

Công nghệ Điện ảnh - Truyền hình là lĩnh vực kĩ thuật về hình ảnh động, các kỹ xảo bao gồm các phương tiện, vật tư, thiết bị, các phương pháp ghi lại và tái tạo các hình ảnh động và âm thanh, các kỹ xảo trong dựng phim... để tạo nên các bộ phim và nghệ thuật điện ảnh.

Có thể hiểu một cách ngắn gọn, được gọi là công nghệ khi nó có được kĩ thuật, cách thức làm phim tiên tiến, sử dụng nhiều hiệu ứng và kĩ xảo trong dựng phim; kỹ thuật sử dụng các phương tiện vật tư, thiết bị nhằm sản xuất được những thước phim chất lượng, đảm bảo đủ tiêu chuẩn và mang giá trị nghệ thuật cao...

Nếu học ngành này, năm đầu tiên bạn sẽ được đào tạo tổng thể về sân khấu, điện ảnh, truyền hình. Những năm tiếp theo bạn sẽ được đào tạo về những kĩ thuật làm phim có tính thiên về kĩ xảo, như tạo ra một khu rừng với những loại cây, những dị nhân kì lạ y như thật. Bạn cũng sẽ được học thiết kế sân khấu theo công nghệ 3D, thiết kế hoạt hình — dựng phim 3D, môn Định luật bối cảnh (giúp bạn hiểu về quy luật xa gần, ánh sáng của hình ảnh), môn Thiết kế in ấn (cách thiết kế bìa tạp chí, dàn trang sách, báo ở dạng 3D)...

Giảng đường của ngành Công nghệ Điện ảnh thường là các phim trường, đài truyền hình, xưởng phim. Hấp dẫn nhất là khi vào chuyên ngành, tất cả thao tác của bạn sẽ diễn ra trên máy quay 3D, máy tính, cả phần mềm hỗ trợ hiệu ứng 3D như 3Dmax, Maya, 4D studio… Sản phẩm của các bạn chính là những sự kiện sân khấu hoành tráng có âm thanh và ánh sáng tuyệt vời, những bộ phim điện ảnh hay phim hoạt hình chất lượng cao về âm thanh, hình ảnh dưới dạng 3D (như phim hoạt hình Dưới bóng cây chẳng hạn).

Bạn sẽ có cơ hội làm việc ở tất cả các lĩnh vực có liên quan đến hình ảnh và thiết kế ở cấp độ 3D. Từ những việc “nhẹ” như thiết kế poster, bìa tạp chí, hình ảnh quảng cáo… đến những việc “phức tạp” hơn như dựng phim, vẽ hoạt hình, thiết kế sân khấu, và cao cấp hơn là giám đốc hình ảnh cho các sự kiện trực tiếp, phim, nhà đài...

Các chuyên ngành được đào tạo của Công nghệ Điện ảnh Truyền hình gồm:

- Dựng phim

- Sản xuất phim điện ảnh

- Phổ biến phim điện ảnh

- Sản xuất phim truyền hình

- Kỹ thuật truyền dẫn phát sóng truyền hình

Một số tố chất cần có khi theo học nghề Công nghệ Điện ảnh - Truyền hình:

- Giàu cảm xúc, khả năng đồng cảm

- Có khả năng trình diễn, biểu diễn

- Khéo léo với các động tác vận động cơ thể

- Thoải mái và tự tin khi ở chỗ đông người

- Có niềm đam mê nghệ thuật, văn hóa

- Thích thể hiện mình thông qua nghệ thuật

- Thích học môn âm nhạc

Nghề Báo chí

Nhà báo, còn gọi là ký giả, là người làm công tác báo chí chuyên nghiệp như: phóng viên, biên tập viên, thư ký tòa soạn, Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập, các trưởng ban nghiệp vụ báo chí...

Các nhà báo chuyên nghiệp tại Việt Nam, công tác 3 năm chính thức tại một tòa soạn báo của Việt Nam (làm việc theo chế độ biên chế hoặc hợp đồng lao động dài hạn) sẽ được cơ quan báo chí đó đề cử Bộ Thông tin và Truyền thông xem xét cấp Thẻ Nhà báo. Đây là loại thẻ hành nghề duy nhất trong nghề báo chí ở Việt Nam, có giá trị khi hoạt động nghiệp vụ.

Nhà báo có quyền hoạt động báo chí hợp pháp trên lãnh thổ nước Việt Nam và được pháp luật Việt Nam bảo vệ. Nhà báo cũng được hưởng một số ưu tiên, ưu đãi cần thiết theo quy định của pháp luật khi hoạt động nghề nghiệp: tham khảo, tra cứu tài liệu, ưu tiên trong việc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng...

Ngành báo chí hiện đang là một trong những ngành “hot” đối với các thí sinh khối C, D1. Ngành học này sẽ trang bị cho bạn những kiến thức về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, những kiến thức cơ bản về chính trị, văn hóa, xã hội, hình thành kỹ năng phân tích, bình luận tình hình thời sự quốc tế và trong nước. Song song đó là nghiệp vụ báo chí như viết tin, phỏng vấn, biên tập chương trình, chụp ảnh, ghi âm, quay phim, làm phóng sự, điều tra…

Nghề báo luôn tiếp thu cái mới, sáng tạo và đổi mới liên tục để đáp ứng nhu cầu độc giả nên có sự đào thải rất nhanh, nếu bạn không tìm ra được cái mới bạn sẽ dễ bị tự đào thải. Do đó, trong quá trình làm việc đòi hỏi bạn phải tự học hỏi, trau dồi thêm kiến thức thời sự, xã hội, chuyên môn hoặc tìm đến các khóa tập huấn chuyên sâu dành riêng cho nghề nghiệp của mình để nâng cao trình độ và kỹ năng tác nghiệp.

Thời gian gần đây, với sự phát triển mạnh của thông tin điện tử, mạng internet trở thành công cụ “đắc lực” đối với giới trẻ để tìm kiếm thông tin và học hỏi, trao đổi thông tin qua mạng, do vậy mà các đơn vị đào tạo bắt đầu chú ý đến mảng đào tạo nhân sự cho các tòa soạn báo điện tử với chuyên ngành Báo mạng (hay Báo điện tử). Mảng này hiện đang thu hút nhiều thí sinh vì nhu cầu xã hội ngày càng cao, ngoài các tờ báo, nhiều công ty lớn, công ty kinh doanh về thương mại điện tử cũng đang cần các phóng viên am hiểu về báo điện tử để viết tin bài, biên tập thông tin cho các hoạt động nội bộ, làm PR (quan hệ công chúng) hay quản lí nội dung, cập nhật thông tin cho website của các đơn vị.

Bạn muốn trở thành nhà báo?

Đối với nghề báo, năng lực công tác là rất quan trọng, đòi hỏi những người làm báo phải có kiến thức xã hội sâu rộng, óc quan sát - phán đoán tốt và năng lực giao tiếp tốt. Làm nghề báo mà bạn thiếu tự tin, không mạnh dạn, ít xông xáo thì khó mà thành công được. Nhiều anh chị phóng viên khi tác nghiệp, để lấy được một thông tin hấp dẫn đôi khi phải chờ “săn” đến gần cả tuần mà chưa hẳn đã được. Cực khổ thế nhưng đó lại là niềm vui, niềm hạnh phúc của nhà báo khi thực hiện được điều gì đó có ích cho xã hội, họ yêu nghề và viết vì cuộc sống, cho chính họ và cho mọi người.

Ngoài năng lực công tác, nghề báo đòi hỏi ở bạn rất cao về đạo đức, nhân cách người làm báo. Trung thực, thẳng thắn, nói đúng, viết đúng sự thật và khách quan là những tố chất cực kỳ quan trọng đối với nghề này. Bởi một khi những gì bạn đã nói và viết lên mặt báo thì hàng ngàn, hàng vạn người biết đến, nếu không nói đúng sự thật thì tác hại vô cùng. Do đó, trong chương trình đào tạo rất chú trọng đến vấn đề này.

Mục tiêu đào tạo ngành này quy định rõ: những người được đào tạo theo chương trình này phải có trình độ giác ngộ chính trị và lập trường giai cấp vững vàng; có ý thức dân tộc và yêu nước sâu sắc; có năng lực hoạt động nghiệp vụ báo chí để có thể hội nhập bình đẳng trong hoạt động nghề nghiệp trong khu vực và thế giới; có đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, thái độ dũng cảm trong cuộc đấu tranh bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, chống lại những âm mưu và hành động phá hoại chế độ, cổ vũ và hướng dẫn quần chúng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có tác phong làm việc khoa học, nghiêm túc, cầu thị trên cơ sở nhận thức đầy đủ và tự giác về vai trò - vị thế xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng.

Để trở thành một nhà báo thực sự, đó là cả quá trình không ngừng rèn luyện, phấn đấu và học hỏi để tự hoàn thiện mình. Nghề báo sống bằng ngòi bút, do đó khi bạn quyết tâm theo nghề này thì hãy cố gắng không ngừng “luyện nghề”, đi nhiều, đọc nhiều và viết nhiều.

Trên thực tế thì không phải tất cả các bạn sinh viên học báo chí ra trường đều làm báo. Nhiều bạn phải chuyển đổi nghề, “lấn sân” sang các lĩnh vực khác có liên quan như: PR, marketing, xây dựng và quản trị thương hiệu... bởi số lượng tuyển dụng vào các cơ quan báo chí hàng năm rất ít, trong khi cử nhân ra trường lớn gấp nhiều lần. Nói như vậy không có nghĩa là cử nhân Báo chí ra trường phần lớn làm việc trái ngành hoặc thất nghiệp. Nếu thực sự yêu thích nghề báo và có sự đam mê, bạn sẽ có rất nhiều cơ hội để làm việc, để được tự khẳng định mình.

Một số tố chất cần có khi học Nghề Báo chí:

- Khả năng lĩnh hội và sử dụng ngôn từ

- Khả năng ghi nhớ từ mới và cấu trúc ngữ pháp

- Khả năng nói, viết, tranh luận, kể chuyện

- Khả năng giao tiếp và tạo dựng quan hệ

- Thích viết thư từ, nhật ký, viết truyện, làm thơ

- Trung thực, khách quan, nhạy cảm

- Không ngừng học hỏi, nâng cao vốn kiến thức, vốn sống

- Học tốt môn văn học, ngoại ngữ

Nghề Tâm lý học

>Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thần và tư tưởng của con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động). Tâm lý học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người. Ngành này tập trung vào loài người, tuy một vài khía cạnh của động vật cũng thỉnh thoảng được nghiên cứu. Động vật ở đây có thể được nghiên cứu như là những chủ thể độc lập, hoặc – một cái nhìn gây tranh cãi hơn – được nghiên cứu như một cách tiếp cận đến sự hiểu biết bộ máy tâm thần của con người (qua tâm lý học so sánh). Tâm lý học được định nghĩa một cách rộng rãi như là "khoa nghiên cứu những hành vi và những tiến trình tâm thần của con người".

Tâm lý học vừa được nghiên cứu một cách khoa học lẫn phi khoa học. Tâm lý học chủ đạo ngày nay đa phần đặt nền tảng trên thuyết thực chứng, thông qua những phân tích định lượng và sử dụng những phương pháp khoa học để thử và bác bỏ những giả thuyết. Tâm lý học có khuynh hướng chiết trung, sử dụng và tiếp thu kiến thức thu thập được từ nhiều ngành khoa học khác để hiểu và lý giải hành vi của con người.

Nhiệm vụ nghiên cứu của Tâm lý học:

- Nghiên cứu bản chất của các hiện tượng tâm lý.

- Nghiên cứu mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý đó.

- Nghiên cứu vai trò, chức năng của tâm lý đối với hoạt động của con người.

Thời gian gần đây, nhiều người mới bắt đầu biết đến những ứng dụng của khoa học tâm lí như tư vấn tâm lí, chữa bệnh bằng liệu pháp tâm lí, phân tích tâm lí tiêu dùng phục vụ quá trình sản xuất, kinh doanh... Một số chuyên gia tâm lí cho rằng trong tương lai không xa, nhu cầu nhân sự liên quan đến lĩnh vực này sẽ cần thiết hơn bao giờ hết.

Ở nước ta, khoa học tâm lí hiện vẫn còn quá mới đối với nhiều người nên việc ứng dụng tâm lí vào các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội còn bị hạn chế. Trên thực tế, chuyên gia tâm lí có thể mang lại nhiều lợi ích cho tập thể, cá nhân hay cộng đồng.

Đối với đơn vị sản xuất, những ứng dụng của tâm lí học có thể giúp đơn vị tăng năng suất sản xuất thông qua hoạt động nghiên cứu những ảnh hưởng của màu sắc, không gian, tiếng ồn… tác động đến các trạng thái tâm lí người, từ đó đưa ra biện pháp khắc phục; hay nâng cao khả năng đảm bảo an toàn lao động, giảm stress…

Đối với hoạt động kinh doanh, những nghiên cứu về tâm lí khách hàng hay tâm lí người tiêu dùng, thị hiếu, hành vi tiêu dùng, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng cũng góp phần quan trọng trong việc bán hàng hay phát triển sản phẩm mới.

Đặc biệt, trong lĩnh vực đời sống xã hội, tâm lí học góp phần “cải thiện” đời sống tinh thần của mọi người thông qua hoạt động tư vấn ở các lĩnh vực như: tình yêu, lối sống, hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên…

Về cơ bản, chương trình đào tạo cử nhân Tâm lí học sẽ cung cấp cho bạn những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về tâm lí người; những kỹ năng thực hành tâm lí phục vụ cho việc ứng dụng tâm lí học vào cuộc sống. Ngoài ra, tâm lí học có mối liên hệ mật thiết với sinh lí học, đặc biệt là sinh lí thần kinh nên bạn cũng được học về giải phẫu và sinh lí hoạt động thần kinh cấp cao.

Đi sâu vào phần cơ sở và chuyên ngành, bạn sẽ được cung cấp các kiến thức về lịch sử tâm lí học, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tâm lí học, thống kê xã hội, tâm lí học xã hội, tâm lí học phát triển, tâm lí học nhân cách, chẩn đoán tâm lí, tâm lí học quản lí, tâm lí học lao động, tâm lí học pháp luật, tâm lí học giáo dục, tâm lí học tham vấn, tâm bệnh học… Bên cạnh đó là các kỹ năng nghiên cứu về tâm lí học, tư vấn tâm lí thuộc nhiều lĩnh vực như: tình yêu hôn nhân gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên, tư vấn học đường; về chẩn đoán, tư vấn và trị liệu tâm lí, ứng dụng tâm lí học trong tổ chức nhân sự, nghiên cứu giảng dạy tâm lí học...

Một số tố chất cần có khi theo học nghề Tâm lý học:

- Khả năng lĩnh hội và sử dụng ngôn từ

- Khả năng ghi nhớ từ mới và cấu trúc ngữ pháp

- Khả năng nói, viết, tranh luận, kể chuyện

- Khả năng giao tiếp và tạo dựng quan hệ

- Trung thực, khách quan, nhạy cảm

- Không ngừng học hỏi, nâng cao vốn kiến thức, vốn sống

- Học tốt môn văn học, ngoại ngữ

Nghề Công tác xã hội

Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó.

Công tác xã hội là một nghề chuyên hỗ trợ, giúp đỡ những người gặp khó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội (người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, người già...). Sứ mạng của ngành công tác xã hội là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu:

- Những rào cản trong xã hội

- Sự bất công

- Và sự bất bình đẳng

Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ.

Tiến trình công tác xã hội tập trung vào việc: Phát hiện những mối quan tâm của con người (ví dụ như việc làm, thu nhập, tâm lý-tình cảm...); Xác định các nhu cầu của con người (ví dụ nhu cầu về ăn, ở, mặc hoặc an toàn, vui chơi, giải trí...); Xác định các nguồn lực bên trong và bên ngoài của con người (Nguồn lực bên trong: sức khoẻ, mong muốn vượt qua hoàn cảnh khó khăn, trí tuệ, kỹ năng hoặc những tiềm năng khác; nguồn lực bên ngoài: sự hỗ trợ của chính quyền, các tổ chức, đất đai...); Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch và mục tiêu để dáp ứng các nhu cầu đó.

Nghề công tác xã hội luôn quan tâm tới môi trường sống của những người được giúp đỡ. Môi trường sống bao gồm: môi trường tự nhiên, gia đình, bạn bè, họ hàng, hàng xóm, nhà trường, cơ quan và đồng nghiệp, chính quyền địa phương và hệ thống luật pháp...

Chương trình đào tạo của ngành này sẽ cung cấp cho bạn những kiến thức chuyên môn và các kỹ năng thực hành công tác xã hội, giúp bạn có đủ khả năng cung ứng các dịch vụ xã hội; làm công tác xã hội chuyên nghiệp trong các lĩnh vực như sức khỏe, pháp luật, kinh tế, truyền thông… đồng thời có thể tham gia xây dựng và quản lí các dự án phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn…

Một số tố chất cần có khi theo học Nghề Công tác xã hội:

- Khả năng lĩnh hội và sử dụng ngôn từ

- Khả năng ghi nhớ từ mới và cấu trúc ngữ pháp

- Khả năng nói, viết, tranh luận, kể chuyện

- Khả năng giao tiếp và tạo dựng quan hệ

- Thích viết thư từ, nhật ký, viết truyện, làm thơ

- Trung thực, khách quan, nhạy cảm

- Không ngừng học hỏi, nâng cao vốn kiến thức, vốn sống

- Học tốt môn văn học, ngoại ngữ

Nghề Quản trị chất lượng

Quản trị chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng. Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng nói chung bao gồm lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng.

Quản trị chất lượng hiện đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chỉ trong sản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình tổ chức, từ quy mô lớn đến quy mô nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không. Quản trị chất lượng đảm bảo cho tổ chức làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng, theo triết lý "làm việc đúng" và "làm đúng việc", "làm đúng ngay từ đầu" và "làm đúng tại mọi thời điểm".

Chương trình đào tạo sẽ cung cấp cho bạn các kiến thức và kỹ năng chuyên ngành như: quản trị chất lượng; kỹ thuật quản trị chất lượng; hệ thống quản lí tiết kiệm và không lỗi; hệ thống quản lí theo tiêu chuẩn; quản trị công nghệ; quản trị sản xuất; quản trị dự án; thiết kế hệ thống chất lượng; đo lường chất lượng; chi phí chất lượng, năng suất và hiệu quả; tiêu chuẩn hóa; thống kê chất lượng; quản lí nhà nước về chất lượng…

Kỹ sư Quản trị chất lượng sẽ đảm nhận công việc với những việc làm cụ thể như: lập kế hoạch, chương trình quản trị chất lượng và chỉ đạo thực hiện tại các công ty dựa trên nhu cầu của thị trường; xác định mức chất lượng tối ưu trong chiến lược kinh doanh; xây dựng một một chính sách hợp lí về chất lượng cho công ty, cho ngành trên cơ sở những nhu cầu và khả năng của xã hội, của thị trường và của ngành; xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống quản trị chất lượng trong các công ty, các ngành; phân bổ và sử dụng hợp lí các nguồn lực trong tổ chức, góp phần tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất; xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống quản trị theo các tiêu chuẩn quốc tế trong các doanh nghiệp.

Các nguyên tắc của một quy trình quản lý chất lượng:

- Hướng vào khách hàng: Mọi tổ chức đều phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu các nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, cần đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và cố gắng vuợt cao hơn sự mong đợi của họ.

- Sự lãnh đạo: Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất giữa mục đích và phương hướng của tổ chức. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ để có thể hoàn toàn lôi cuốn mọi người tham gia để đạt được các mục tiêu của tổ chức.

- Sự tham gia của mọi người: Mọi người ở tất cả các cấp là yếu tố của một tổ chức và việc huy động họ tham gia đầy đủ sẽ giúp cho việc sử dụng được năng lực của họ vì lợi ích của tổ chức.

- Cách tiếp cận theo quá trình: Kết quả sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn lực và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình.

- Cách tiếp cận theo hệ thống

- Cải tiến liên tục: Cải tiến liên tục các kết quả thực hiện phải là mục tiêu thường trực của tổ chức.

- Quyết định dựa trên sự kiện: Mọi quyết định có hiệu lực được dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin.

- Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng: Tổ chức và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị.

Nghề Dầu khí

Nghề dầu khí chịu trách nhiệm thực hiện việc thăm dò, khai thác, xử lí dầu mỏ và khí đốt tự nhiên nhằm đảm bảo nhiên liệu, khí đốt và cung cấp các sản phẩm của ngành hóa dầu phục vụ đời sống xã hội.

Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông vận tải. Hơn nữa, dầu cũng được sử dụng trong công nghiệp hóa dầu để sản xuất các chất dẻo (plastic) và nhiều sản phẩm khác. Vì thế dầu thường được ví như là "vàng đen".

Dầu mỏ hay dầu thô là một chất lỏng sánh đặc màu nâu hoặc ngả lục. Dầu thô tồn tại trong các lớp đất đá tại một số nơi trong vỏ Trái Đất. Dầu mỏ là một hỗn hợp hóa chất hữu cơ ở thể lỏng đậm đặc, phần lớn là những hợp chất của hydrocarbon, thuộc gốc alkane, thành phần rất đa dạng. Hiện nay dầu mỏ chủ yếu dùng để sản xuất dầu hỏa, diezen và xăng nhiên liệu. Ngoài ra, dầu thô cũng là nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ra các sản phẩm của ngành hóa dầu như dung môi, phân bón hóa học, nhựa, thuốc trừ sâu, nhựa đường... Khoảng 88% dầu thô dùng để sản xuất nhiên liệu, 12% còn lại dùng cho hóa dầu. Do dầu thô là nguồn năng lượng không tái tạo nên nhiều người lo ngại về khả năng cạn kiệt dầu trong một tương lai không xa.

Kỹ sư dầu khí chịu trách nhiệm về các thiết bị, các êkíp thực hiện việc khai thác, xử lí và di chuyển dầu thô và khí đốt tự nhiên.

Sau khi hoàn thành việc khoan dưới lòng đất , cùng với sự trợ giúp của các kĩ thuật viên, kỹ sư dầu khí đưa ra các chỉ dẫn để trang bị cho các giếng khoan và bảo trì tất cả các thiết bị. Song song đó, họ thực hiện các nghiên cứu giúp cải thiện phương pháp sản xuất và hiệu suất các giếng khoan. Họ thường ở các địa điểm sản xuất trên đất liền, hoặc thường xuyên nhất là ở giữa biển khơi.

Kỹ sư dầu khí thường đi công tác dài ngày, chủ yếu ở nước ngoài. Họ có thể làm việc ở những công trình trên đất liền hay ngoài biển khơi.

Ở các dàn khoan ngoài biển, điều kiện làm việc và sinh sống thường rất hạn chế và khó khăn, vì vậy, người Kỹ sư dầu khí phải giữ cho mình sự dẻo dai cần thiết để đương đầu với thử thách; phải có khả năng phản ứng nhanh nhạy để có thể xử lý sự cố một cách nhanh nhất tránh gây nguy hại đến sự an toàn của nhân công và môi trường.

Nghề Hóa học (Kỹ sư Hóa học)

Hóa học là khoa học nghiên cứu về chất, phương pháp biến đổi chất và ứng dụng của chất đó trong cuộc sống. Hóa học nói về các nguyên tố, hợp chất, nguyên tử, phân tử, và các phản ứng hóa học xảy ra giữa những thành phần đó.

Trong lĩnh vực công nghiệp, hóa học đóng vai trò rất quan trọng. Công nghiệp hóa học sản xuất các hóa chất cơ bản như axít sunfuric hay amoniac, thường là nhiều triệu tấn hằng năm, cho sản xuất phân bón và chất dẻo và các mặt khác của đời sống và sản xuất công nghiệp. Mặt khác, ngành công nghiệp hóa học cũng sản xuất rất nhiều hợp chất phức tạp, đặc biệt là dược phẩm. Nếu không có các hóa chất được sản xuất trong công nghiệp thì cũng không thể nào sản xuất máy tính hay nhiên liệu và chất bôi trơn cho công nghiệp ô tô.

Phân ngành của Hóa học thường được chia ra theo loại chất nghiên cứu mà quan trọng nhất là cách chia truyền thống ra làm Hóa hữu cơ (Hóa học nghiên cứu về những hợp chất của cacbon) và Hóa vô cơ (Hóa học của những nguyên tố và hợp chất không có chuỗi cacbon).

Một cách chia khác là chia Hóa học theo mục tiêu thành Hóa phân tích (phân chia những hợp chất) và Hóa tổng hợp (tạo thành những hợp chất mới).

Một số chuyên ngành quan trọng khác của Hóa học là: Hóa sinh, Hóa-Lý, Hóa lý thuyết bao gồm ngành Hóa lượng tử, Hóa thực phẩm, Hóa lập thể, và Hóa dầu.

Kỹ sư hóa học nghiên cứu sự phát triển các phân tử, các nguyên lí chủ động hay các sản phẩm hóa học để phân phối trên thị trường dược phẩm hay mỹ phẩm chẳng hạn. Họ cũng có thể tham gia vào việc triển khai các nguyên tắc sáng chế, vào việc sản xuất sản phẩm, vào việc kiểm tra chất lượng hay cả việc thương mại hóa sản phẩm.

Tính chính xác, sự kiên trì và cẩn trọng là những phẩm chất cần phải có trong nghề này.  Để làm việc trên các sản phẩm hóa học, đòi hỏi bạn phải  tỉ mỉ và  kiên nhẫn đến cùng. Vì các thao tác trên các sản phẩm hóa học có thể dẫn đến nhiều nguy hiểm nên nếu  thiếu cảnh giác có thể là nguyên nhân gây ra vết thương hay tai nạn.

Mỗi công đoạn thiết kế và sản xuất hỗn hợp hóa học được quản lí bởi một hoặc một nhóm kỹ sư hóa học. Điều kiện công việc khác nhau tùy theo bạn đang làm việc ở văn phòng nghiên cứu, phòng thí nghệm hay xưởng sản xuất.

Kỹ sư hóa học phòng thí nghiệm thực hiện các thử nghiệm ở phòng thí nghiệm để kiểm tra kết quả công việc. Ở bộ phận điều hành tại văn phòng nghiên cứu, họ sẽ kiểm tra  tất cả các công việc đã được hoàn thành, sau đó thực hiện một bản mẫu. Trong quá trình sản xuất, họ chú ý đến chất lượng nguyên liệu và các sản phẩm được thiết kế thông qua việc thực hiện các thử nghiệm trên mẫu thử.

Kỹ sư hóa học hoàn thành công việc trong bộ phận dịch vụ nghiên cứu, phát triển hay trong phòng thí nghiệm.  Họ cũng có thể làm việc trong xưởng nếu chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động trong bộ phận sản xuất.

Để trở thành một Kỹ sư Hóa học, bạn cần có các đức tính như:

- Tính chính xác, tỉ mỉ, thận trọng.

- Sự kiên trì, nhẫn nại bởi kỹ sư hóa học đôi khi phải thực hiện rất nhiều phép thử trước khi tìm ra được một giải pháp đúng đắn.

- Sự cảnh giác, óc phán đoán bởi các thao tác trên các sản phẩm hóa học có thể dẫn đến nhiều nguy hiểm vì việc thiếu cảnh giác có thể là nguyên nhân gây ra vết thương hay tai nạn.

Nghề Công nghệ sinh học

Công nghệ sinh học là công nghệ dựa trên sinh học, đặc biệt được ứng dụng trong nông nghiệp, khoa học thực phẩm, và dược phẩm.

Công nghệ sinh học là một lĩnh vực công nghệ cao dựa trên nền tảng khoa học về sự sống, kết hợp với quy trình và thiết bị kỹ thuật nhằm tạo ra các công nghệ khai thác các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào thực vật và động vât để sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm sinh học có chất lượng cao, phục vụ cho lợi ích, nhu cầu của con người đồng thời phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.

Qua từng thời kỳ phát triển, công nghệ sinh học chia thành 3 giai đoạn chính:

  • Công nghệ sinh học truyền thống: chế biến các sản phẩm dân dã đã có từ lâu đời như tương, chao, nước mắm... theo phương pháp truyền thống, xử lí đất đai, phân bón để phục vụ nông nghiệp...
  • Công nghệ sinh học cận đại: có sử dụng công nghệ trong quá trình chế biến sản phẩm như việc sử dụng các nồi lên men công nghiệp để sản xuất ở quy mô lớn các sản phẩm sinh hạt như mì chính, acid amin, acid hữu cơ, chất kháng sinh, vitamin, enzym.
  • Công nghệ sinh học hiện đại: Công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ enzym và protein, công nghệ vi sinh vật, công nghệ lên men, công nghệ môi trường.

Ngày nay, công nghệ sinh học đang được ứng dụng vào trong rất nhiều các lĩnh vực của cuộc sống: công nghiệp, nông nghiệp, y học... Bằng những kiến thức sinh học về thực vật, động vật, nấm, vi khuẩn,... và sử dụng "công nghệ DNA tái tổ hợp" những nhà khoa học đang cố gắng tạo ra những cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, những loại thực phẩm, dược phẩm phục vụ cho việc chữa bệnh cho con người và công nghệ tế bào và kĩ thuật chuyển gen hiện nay rất phát triển ở Việt Nam.

Ứng dụng của Công nghệ sinh học vào đời sống ở các lĩnh vực như:

  • Y dược (chẩn đoán bệnh, chế biến thuốc, vắcxin)
  • Môi trường (xử lý môi trường, đánh giá mức độ độc hại của sản phẩm, xử lý chất thải...)
  • Nông - lâm - ngư - nghiệp ( sản xuất giống, chuẩn đoán bệnh, kiểm soát chất lượng)
  • Công nghiệp ( điều khiển các quá trình lên men trong ngành thực phẩm, vật liệu sinh học...)

Kỹ sư công nghệ sinh học có thể làm việc trong các ngành nghề sau:

- Vi sinh vật học
- Công nghệ sinh học và kỹ thuật môi trường
- Công nghệ sinh học Biển và Môi trường
- Công nghệ Sinh học công nghiệp
- Công nghệ Sinh học phân tử
- Công nghệ sinh học Y sinh
- Bảo vệ thực vật
- Điện tử Y sinh
- Công nghệ Nanô sinh học
- Côn trùng học
- Đất và dinh dưỡng cây trồng
- Động vật học
- Hóa sinh học
- Lý sinh học
- Công nghệ sinh học nông nghiệp
- Thủy sinh vật học

Để trở thành một Kỹ sư Công nghệ sinh học, bạn cần có một số tố chất sau:

  • Đam mê khoa học và sáng tạo.
  • Tính cẩn trọng và tỉ mỉ.
  • Có trình độ ngoại ngữ và tin học tốt.

Nghề Công nghệ thực phẩm

Ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam gồm một số ngành kinh tế kỹ thuật chính: Công nghệ sản xuất rượu bia – nước giải khát, Công nghệ chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa, Công nghệ chế biến thịt và các sản phẩm từ thịt, Bảo quản và chế biến thủy sản, Bảo quản và chế biến rau quả, Bảo quản và chế biến lượng thực, Sản xuất mía đường – Bánh kẹo, Chế biến trà - cà phê, Đồ hộp thịt, cá, rau quả,... Cả nước có hàng nghìn nhà máy thực phẩm lớn nhỏ, đã và đang sản xuất được nhiều sản phẩm phục vụ đời sống nhân dân và xuất khẩu ra thị trường thế giới.

Kỹ sư Công nghệ thực phẩm có thể làm việc chuyên môn tại các doanh nghiệp sản xuất và chế biến thực phẩm (thịt, cá, sữa, café, chè, đồ hộp, gia vị…), quản lý chất lượng thực phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm… Các cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực chế biến, bảo quản, nâng cao chất lượng thực phẩm phục vụ trong nước và xuất khẩu  được đào tạo với trình độ chuyên môn cao.

Kỹ sư công nghệ thực phẩm có nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển thiết kế cho các sản phẩm mới, đóng gói bao bì, làm việc chặt chẽ với bộ phận tiếp thị sản phẩm, với xưởng sán xuất và các nhà cung cấp nguyên liệu. Công việc của họ bắt đầu bằng việc nghiên cứu và kết thúc bằng việc phát triển dây chuyền thực phẩm.

Để đạt đến thành công, các kỹ sư còn phải quan tâm đến những kiến thức nằm ngoài chuyên môn khác như marketing hoặc sản xuất. Đây là một nghề dành cho những người thích tìm tòi, học hỏi; có tổ chức, kỷ luật, nghiêm túc, là những tính cách rất cần thiết trong công việc. Một điều quan trọng nữa là các kỹ sư phải hết sức kiên trì vì họ phải thường xuyên thực hiện các thí nghiệm nhiều lần trước khi tìm ra một công thức đúng.

Kết hợp chặt chẽ với bộ phận tiếp thị, sản xuất, các nhà cung cấp nguyên liệu, kỹ sư nghiên cứu, phát triển để tham gia công đoạn thiết kế sản phẩm. Công việc của họ bắt đầu từ các nghiên cứu và kết thúc bằng việc phát triển dây chuyền sản xuất. Một khi các nguyên lý sản xuất, đóng gói sản phẩm được xác định, họ sẽ giám định lại toàn bộ quá trình thực hiện và tiến hành kiểm tra. Khi kết quả đạt được như mong đợi của người tiêu dùng, kỹ sư nghiên cứu và phát triển sẽ xác định các phương thức sản xuất. Cuối cùng, họ sẽ theo dõi quá trình sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường.

Để làm tốt nghề này, bạn cần có những tố chất cần thiết như:

- Tính kỷ luật: Làm việc trong mảng nghiên cứu-phát triển đỏi hỏi các cá nhân phải có tổ chức và nghiêm túc.

- Thích tìm tòi: Người kỹ sư cần phải quan tâm đến những kiến thức ngoài chuyên môn như marketing hay sản xuất.

- Tính kiên trì: Phải kiên trì tìm ra một công thức đúng cho tất cả các thí nghiệm.

Facebook comments